HSBC giảm dự báo tăng trưởng của Việt Nam xuống 5%

Hoàng Yến
(TBTCO) - Do mức độ suy giảm thương mại kéo dài và ảnh hưởng sâu rộng hơn kỳ vọng, HSBC vừa giảm nhẹ dự báo tăng trưởng năm 2023 của Việt Nam xuống 5,0% so với mức 5,2% trước đây. Nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phục hồi đáng kể từ quý 4/2023, với sự hỗ trợ hơn nữa về chính sách tiền tệ.
aa
ADB dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm nhẹ xuống mức 6,5% Dự báo tăng trưởng của các nền kinh tế lớn nhất thế giới IMF tăng nhẹ dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2023

Lãi suất liên tục giảm để hỗ trợ tăng trưởng

Theo một báo cáo mới công bố ngày 19/6, HSBC đánh giá 2023 là một năm khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh nhiều rủi ro làm chậm tăng trưởng ngày càng gia tăng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ. Như vậy, chỉ trong chưa đầy ba tháng, NHNN đã ba lần giảm lãi suất điều hành, mỗi lần 50 điểm cơ bản.

Trước đó, vào đầu tháng 4, NHNN là ngân hàng trung ương đầu tiên ở châu Á cắt giảm lãi suất điều hành. Tiếp theo đó lại có một đợt cắt giảm cuối tháng 5 trước khi công bố tiếp tục giảm lãi suất vào ngày 16/6. Theo đó, kể từ ngày 19/6, lãi suất tái cấp vốn của NHNN giảm 50 điểm cơ bản xuống 4,5%. Các mức lãi suất chính khác cũng giảm theo như lãi suất tái chiết khấu giảm 50 điểm cơ bản xuống 3,0% còn lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng giảm xuống 5,0%. Trong khi đó, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 tháng giữ nguyên ở mức 0,5%/năm còn đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến 6 tháng giảm 25 điểm cơ bản xuống 4,75%/năm.

HSBC giảm dự báo tăng trưởng của Việt Nam xuống 5%
Chỉ trong chưa đầy 3 tháng, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất điều hành

Theo HSBC, quyết định mới đây phản ánh rõ ràng sự cấp thiết của NHNN trong việc hỗ trợ tăng trưởng thông qua kênh tín dụng. Đây là động thái tiếp theo nhằm giảm chi phí tài trợ vốn cho doanh nghiệp và hộ gia đình, từ đó khuyến khích môi trường kinh doanh và hỗ trợ tâm lý người tiêu dùng.

Sau khi tốc độ tăng trưởng của Quý 1/2023 giảm mạnh xuống còn có 3,3% so với cùng kỳ năm trước, HSBC dự báo Việt Nam tiếp tục chuẩn bị cho những khó khăn lớn hơn. Mặc dù các chỉ số mới nhất cho thấy tình hình không đến nỗi xấu đi, nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu "chạm đáy" để bật trở lại.

Điều đáng mừng là lượng khách du lịch nhập cảnh vào Việt Nam có chiều hướng tích cực. Việt Nam đã đón gần 1 triệu du khách trong vòng hai tháng qua, tương đương 70% mức của năm 2019. Du khách Hàn Quốc đã phục hồi tới 80% của mức trước đại dịch, dù tỷ lệ này mới chỉ đạt 35% với du khách Trung Quốc. Những nút thắt đang tiếp tục được tháo gỡ. Một mặt, Việt Nam đã phục hồi các chuyến bay trực tiếp với Trung Quốc đạt khoảng 40% mức của năm 2019. Quốc hội cũng đang xem xét việc nới lỏng các hạn chế về thị thực vốn được mong đợi từ lâu. Nhiều khả năng sẽ có một cú hích mạnh hơn với du lịch trong quý 4/2023.

Rủi ro lớn nhất với tăng trưởng lúc này là tình hình bên ngoài vẫn chậm lại. Xuất khẩu tính từ đầu năm đến nay đã giảm hơn 10% so với cùng kỳ năm trước, với sự suy yếu thể hiện trong nhiều ngành hàng. Tất cả các ngành hàng chính như điện tử tiêu dùng, dệt may/da giày, máy móc và đồ nội thất gỗ đều sụt giảm mạnh ở mức hai con số và chưa thấy dấu hiệu phục hồi đáng kể.

Lạm phát dự báo chỉ ở mức 2,6%

Ở chiều ngược lại, ngành dịch vụ vẫn tiếp tục là một điểm sáng, phần nào bù đắp cho những suy yếu trên. Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa những mặt hàng giá trị cao, ví dụ như ô tô và dịch vụ liên quan đến du lịch. Tính bình quân 3 tháng, doanh thu bán ô tô giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm trước, gần bằng với mức của giai đoạn giãn cách xã hội năm 2021. Điều đó cho thấy những suy yếu của lĩnh vực bên ngoài đã ngấm vào bên trong, tác động đến tiêu dùng cá nhân.

HSBC giảm dự báo tăng trưởng của Việt Nam xuống 5%
Lượng khách du lịch nhập cảnh vào Việt Nam có chiều hướng tích cực.

Bên cạnh sự cấp thiết trong hỗ trợ tăng trưởng, động thái mới của NHNN tiếp tục phản ánh hai cân nhắc. Một mặt, NHNN vẫn duy trì tâm thế tích cực về triển vọng lạm phát, một lần nữa khẳng định "lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát". Thực tế, lạm phát đã liên tục dịu xuống, gần đây đã xuống dưới 3% so với cùng kỳ năm trước, nhờ giá năng lượng thế giới hỗ trợ và lạm phát lương thực trong nước được xoa dịu. Trước những diễn biến gần đây, HSBC giảm dự báo lạm phát năm 2023 xuống 2,6%, so với dự báo trước đây là 4,0%.

Một vấn đề khác NHNN cân nhắc chính là ổn định tiền tệ. Bất chấp đồng USD mạnh lên gần đây, đồng VND vẫn duy trì tương đối ổn định nhờ tình hình tài khoản vãng lai được cải thiện. Trong khi Việt Nam phải hứng chịu những "cơn gió ngược" trong thương mại, tình hình nhập khẩu còn suy giảm nặng hơn xuất khẩu do bản chất ngành sản xuất thiên về nhập khẩu. Theo đó, thặng dư thương mại bình quân một tháng trong năm 2023 đã tăng gấp đôi lên 2 tỷ USD. Mặc dù vậy, diễn biến của cặp tỷ giá USD-VND vẫn cần theo dõi sát sao vì Fed nhiều khả năng chưa hoàn tất chu kỳ thắt chặt.

Nhìn chung, HSBC đã giảm nhẹ dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 xuống 5,0% (trước đây là 5,2%) sau khi xem xét mức độ suy giảm thương mại kéo dài và ảnh hưởng sâu rộng hơn kỳ vọng. Nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phục hồi đáng kể từ quý 4/2023, đảm bảo sự hỗ trợ hơn nữa về chính sách tiền tệ.

Lãi suất có thể giảm thêm nếu tăng trưởng chưa phục hồi

Trong quý 3, NHNN được kỳ vọng sẽ giảm tiếp lãi suất thêm 50 điểm cơ bản. Điều này nhiều khả năng đưa lãi suất điều hành của Việt Nam xuống 4,0%, đảo ngược những nỗ lực thắt chặt trong năm 2022, đồng thời tương đương với mức giảm lãi suất trong suốt đại dịch. Tuy nhiên, khả năng giảm thêm lãi suất trong 6 tháng cuối năm sẽ khó xảy ra nếu tăng trưởng "chạm đáy" và bật trở lại sớm hơn kỳ vọng.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼100K 13,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼100K 13,450 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 ▼100K 14,490 ▼100K
Trang sức 99.99 13,800 ▼100K 14,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17978 18253 18872
CHF 31759 32140 32780
CNY 0 3825 3918
EUR 29232 29452 30533
GBP 33837 34226 35174
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14526 15114
SGD 19731 20013 20589
THB 703 766 820
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26451
AUD 17793 17893 18815
CAD 18151 18251 19262
CHF 32025 32055 33633
CNY 3806.4 3831.4 3966.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29432 29462 31184
GBP 34198 34248 36016
HKD 0 3355 0
JPY 159.28 159.78 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14649 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20755
THB 0 732.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80