Lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy vào quý II/2024?

Thái Duy
(TBTCO) - Theo các chuyên gia, lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy trong quý II/2024 và cải thiện nhẹ trong bối cảnh khả năng kinh tế hồi phục, tín dụng dần cải thiện. Dự kiến lãi suất huy động sẽ tăng khoảng 0,3% - 0,5% và sẽ tiến dần về mức lãi suất tại thời điểm đầu năm, khi một số ngân hàng đã cho thấy có sự điều chỉnh huy động trái chiều trong tháng 3.
aa

Lãi suất cho vay vẫn giảm

Mặc dù lãi suất liên ngân hàng đã tăng trở lại trong tuần gần đây, tuy nhiên, xu hướng giảm đã duy trì trong tháng 3 trước đó. Theo báo cáo của MBS Research, kể từ đầu tháng 3, diễn biến lãi suất liên ngân hàng cho thấy chiều hướng giảm từ mức lãi suất 1,4% xuống còn 0,8% khi nhu cầu sử dụng tiền đã không còn căng thẳng sau dịp Tết Nguyên đán.

Tính từ 11/3 cho đến ngày 28/3, Ngân hàng Nhà nước đã quay trở lại sử dụng kênh tín phiếu để hút ròng khoảng 169 nghìn tỷ đồng trên thị trường ngân hàng, kỳ hạn đều là 28 ngày và lãi suất từ 1,3% - 2,5%. Động thái này của Ngân hàng Nhà nước diễn ra trong bối cảnh tỷ giá USD/VND tăng mạnh, thanh khoản thị trường khá dư thừa khi cầu tín dụng yếu.

Lãi suất liên ngân hàng đã phản ứng với động thái của Ngân hàng Nhà nước và bật tăng lên mức đỉnh của năm là 1,4% vào ngày 12/3. Tuy nhiên, lãi suất đã hạ nhiệt nhanh chóng và duy trì xu hướng giảm điểm xuống mức 0,2% trong giai đoạn cuối tháng.

Lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy vào quý II/2024?

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 27/3, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 0,6% so với cuối năm 2023, thấp hơn nhiều so với mức tăng 2,6% cùng kỳ năm ngoái. Lãi suất tại các kỳ hạn dưới 1 tháng khác cũng giảm nhẹ và đang trong khoảng 1,2% - 2%. Lãi suất tiết kiệm của ngân hàng tiếp đà giảm kể từ đầu tháng 3 tại 25 ngân hàng.

Đáng chú ý, vào ngày 19/3, ngân hàng BIDV đã điều chỉnh lãi suất tại các kỳ hạn, đặc biệt kỳ hạn 12 tháng giảm 0,1 điểm %, từ 4,8%/năm còn 4,7%/năm. Hiện tại, nhóm ngân hàng quốc doanh đều có mức lãi suất đang là 4,7% cho kỳ hạn 12 tháng.

Ở chiều ngược lại, đã có 5 ngân hàng trong tháng ghi nhận việc tăng lãi suất tiền gửi, tuy nhiên việc tăng lãi suất chỉ xảy ra tại một vài kỳ hạn với mức tăng cũng tương đối nhỏ, khi chỉ tăng nhỏ hơn 0,2%. Trong giai đoạn đầu tháng 4, tiếp tục có một số ngân hàng nhỏ điều chỉnh lãi suất huy động.

Lãi suất huy động không còn dư địa giảm?

Theo các chuyên gia của MBS Research, lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy trong quý II/2024 và cải thiện nhẹ trong bối cảnh khả năng kinh tế hồi phục và tín dụng dần cải thiện.

“Chúng tôi dự kiến lãi suất huy động sẽ tăng khoảng 0,3% - 0,5% và sẽ tiến dần về mức lãi suất tại thời điểm đầu năm khi một số ngân hàng đã cho thấy có sự điều chỉnh huy động trái chiều trong tháng 3” - MBS Research cho hay.

Qua con số tăng trưởng tín dụng cho thấy, nhu cầu vốn trong nền kinh tế đang dần phục hồi, đây sẽ là một yếu tố tác động đến các kế hoạch kinh doanh vốn và ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, những dấu hiệu tích cực của nền kinh tế theo số liệu 3 tháng đầu năm 2024 được kỳ vọng sẽ tiếp diễn và đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ 14-15%.

Cụ thể như, xuất khẩu đều cho thấy dấu hiệu khả quan khi lũy kế 3 tháng năm 2024, xuất khẩu đạt 93 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ và thặng dư thương mại đạt 8 tỷ USD. Thị trường bất động sản đang có những dấu hiệu ấm dần trở lại do nhu cầu gia tăng và nguồn cung bị hạn chế trong 2 năm gần đây khi gần như không có dự án mới được phê duyệt sẽ thúc đẩy tín dụng tại các sản phẩm bất động sản thứ cấp.

Bên cạnh đó, MBS Research còn cho rằng, việc duy trì mức lãi suất thấp như hiện tại của Ngân hàng Nhà nước tác động tích cực đến mở rộng kinh doanh và gia tăng trữ lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp, sẽ được đẩy mạnh giúp tăng trưởng tín dụng cải thiện trong 6 tháng tới.

Lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy vào quý II/2024?
Lãi suất huy động đã nhích tăng ở một số ngân hàng thương mại. Ảnh minh họa.
Lãi suất huy động còn dư địa để giảm thêm do mặt bằng chung đang ở mức thấp lịch sử, trong khi áp lực lạm phát, tỷ giá đang có tín hiệu cần thận trọng. Thêm vào đó, tín dụng được kỳ vọng sẽ dần phục hồi vào nửa sau 2024, tương ứng với sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế.

Theo theo các chuyên gia của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), mặt bằng lãi suất huy động đã xuống mức thấp kỷ lục, trong khi lãi suất cho vay cũng đã điều chỉnh tương đối từ mức đỉnh cuối 2022 là yếu tố hỗ trợ mạnh cho dòng tiền trên thị trường chứng khoán xuyên suốt nhiều quý trở lại đây.

Xét riêng 3 tháng đầu năm, với việc tăng trưởng tín dụng ở mức thấp, tiêu dùng nội địa còn yếu, áp lực tỷ giá chưa gây ảnh hưởng trực tiếp lên mặt bằng lãi suất thị trường 1, mặt bằng lãi suất đã tiếp tục được giảm thêm, giúp thanh khoản thị trường đã xuất hiện nhiều phiên giá trị giao dịch trên 1 tỷ USD.

Dù vậy, “chúng tôi không cho rằng lãi suất huy động còn dư địa để giảm thêm do mặt bằng chung đang ở mức thấp lịch sử, trong khi áp lực lạm phát, tỷ giá đang có tín hiệu cần thận trọng. Thêm vào đó, tín dụng được kỳ vọng sẽ dần phục hồi vào nửa sau 2024, tương ứng với sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế. Trong kịch bản cơ sở, mặt bằng lãi suất sẽ đi ngang hay chỉ nhích tăng nhẹ ở vùng thấp, tiếp tục là yếu tố hỗ trợ thị trường chứng khoán” - các chuyên gia của KBSV cho hay./.

Thái Duy

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲700K 150,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,760 ▲60K 15,060 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,900 ▲100K 15,300 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,900 ▲100K 15,300 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,900 ▲100K 15,300 ▲100K
NL 99.99 14,250 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,150 ▲100K
Trang sức 99.9 14,610 ▲100K 15,210 ▲100K
Trang sức 99.99 14,620 ▲100K 15,220 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,476 ▲1329K 15,062 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,476 ▲1329K 15,063 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,471 ▲6K 1,501 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,471 ▲6K 1,502 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,446 ▲11K 1,491 ▲1343K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,624 ▲1089K 147,624 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,186 ▲825K 111,986 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,748 ▲91657K 101,548 ▲100540K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,131 ▼72508K 9,111 ▼81328K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,284 ▲641K 87,084 ▲641K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,531 ▲459K 62,331 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,476 ▲1329K 1,506 ▲1356K
Cập nhật: 25/08/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18146 18421 19000
CAD 18316 18592 19209
CHF 31897 32278 32919
CNY 0 3840 3950
EUR 29834 30057 31140
GBP 34823 35216 36149
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15258 15844
SGD 20018 20300 20871
THB 713 776 830
USD (1,2) 25848 0 0
USD (5,10,20) 25888 0 0
USD (50,100) 25916 25930 26300
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,849 29,873 31,288
JPY 159.31 159.6 169.27
GBP 34,977 35,072 36,288
AUD 18,313 18,379 19,075
CAD 18,487 18,546 19,227
CHF 32,079 32,179 33,137
SGD 20,121 20,184 20,973
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,265 3,275 3,412
KRW 17.38 18.12 19.71
THB 759.95 769.34 823.2
NZD 15,200 15,341 15,795
SEK - 2,698 2,793
DKK - 4,003 4,145
NOK - 2,753 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,029.83 - 6,808.93
TWD 739.29 - 895.61
SAR - 6,837.63 7,202.05
KWD - 82,833 88,136
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,890 25,920 26,300
EUR 29,884 30,004 31,201
GBP 34,992 35,133 36,171
HKD 3,263 3,276 3,393
CHF 31,945 32,073 33,010
JPY 159.82 160.46 168.42
AUD 18,314 18,388 18,983
SGD 20,189 20,270 20,867
THB 777 780 817
CAD 18,501 18,575 19,168
NZD 15,301 15,849
KRW 18.03 20.01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25930 25930 26290
AUD 18321 18421 19344
CAD 18492 18592 19607
CHF 32128 32158 33740
CNY 3824.8 3849.8 3985
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30020 30050 31773
GBP 35130 35180 36935
HKD 0 3330 0
JPY 160.41 160.91 171.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15359 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20173 20303 21024
THB 0 742.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14800000 14800000 15200000
SBJ 13000000 13000000 15200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,942 25,992 26,310
USD20 25,892 25,992 26,845
USD1 25,842 25,992 26,895
AUD 18,354 18,454 19,562
EUR 29,794 29,894 31,553
CAD 18,433 18,533 19,839
SGD 20,241 20,391 20,947
JPY 160.76 162.26 167.82
GBP 35,012 35,162 36,494
XAU 14,758,000 0 15,062,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/08/2026 17:30
Ngân hàng