Lãi suất huy động đã nhích lên ở một số ngân hàng

Thái Duy
(TBTCO) - Lãi suất huy động dành cho doanh nghiệp đã nhích lên tại một số ngân hàng lớn trong tuần qua, với mức tăng 20 điểm cơ bản ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Với áp lực lạm phát ngày càng hiện hữu, mặt bằng lãi suất đã chạm đáy và tốc độ tăng lãi suất trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào tốc độ phục hồi và lạm phát.
aa

Lãi suất huy động tăng để thu hút tiền gửi tốt hơn

Trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đã bơm 1.019 tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn 14 ngày với lãi suất 2,5%/năm, trong khi đó có 968 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Nhờ vậy, tổng lượng tín phiếu đang lưu hành được nâng lên gần 1,7 nghìn tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm nhiệt, nhưng vẫn duy trì ở mức cao so với giai đoạn trước đó. Kết tuần, kỳ hạn qua đêm ở mức 2,25% (giảm 12 điểm cơ bản) và kỳ hạn 1 tuần 2,38% (giảm 1 điểm cơ bản). Các kỳ hạn dài hơn gần như không có nhiều thay đổi, dao động từ 2,42% đến 2,61%.

Ngân hàng Nhà nước mới đây cũng đã thông báo tăng trưởng tín dụng tính đến ngày 25/2 đạt 2,52% so với cuối năm 2021, cao hơn nhiều so với mức 1,82% được Chính phủ công bố trong cuộc họp thường kỳ tháng 2 trước đó. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng này vẫn thấp hơn mức 2,74% ghi nhận vào cuối tháng 1 năm nay, tương đương giảm 23 nghìn tỷ đồng.

Theo các chuyên gia của SSI Research, tín dụng tăng chậm lại trong tháng 2 do hai nguyên nhân chính, yếu tố mùa vụ và tác động của Thông tư 16/2021/TT-NHNN đến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước cũng đã công bố số liệu tăng trưởng huy động tính đến 25/2, với mức tăng 1,29% so với cuối năm 2021 (tương đương tăng 11,1% so với cùng kỳ). Nhìn chung, tăng trưởng huy động vốn đã cải thiện so với giai đoạn nửa cuối năm 2021 nhưng vẫn chưa hồi phục về mức tăng trưởng trước dịch, phản ánh môi trường lãi suất thấp đã và đang được duy trì trong 2 năm trở lại đây.

Lãi suất huy động đã nhích lên ở một số ngân hàng

Tuy nhiên, các chuyên gia của SSI Research kỳ vọng huy động vốn có thể tăng trong thời gian tới do xu hướng tăng của lãi suất huy động có khả năng thu hút lượng tiền gửi lớn hơn.

“Trong tuần qua, chúng tôi quan sát thấy lãi suất huy động dành cho doanh nghiệp đã nhích lên tại một số ngân hàng lớn (MBB và TCB), với mức tăng 20 điểm cơ bản ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Với áp lực lạm phát ngày càng hiện hữu, chúng tôi cho rằng mặt bằng lãi suất đã chạm đáy và tốc độ tăng lãi suất trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào tốc độ phục hồi và lạm phát” – chuyên gia SSI Research thông tin.

Tỷ giá VND/USD giao dịch ổn định

Tâm điểm thị trường tài chính toàn cầu trong tuần qua vẫn tiếp tục xoay quanh xung đột giữa Nga – Ukraine và các biện pháp trừng phạt kinh tế của các nước với Nga.

Số liệu từ SSI Research cho biết, giá dầu thế giới liên tục leo thang và chạm mức 131 USD/thùng vào ngày 8/3/2021 khi Mỹ ban hành lệnh cấm nhập khẩu dầu và khí đốt từ Nga. Tuy nhiên, ngay sau đó, giá dầu đã hạ nhiệt và kết tuần giảm 4,6% so với tuần trước đó sau khi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) thông báo bơm thêm dầu ra thị trường nhằm bù đắp vào sự gián đoạn nguồn cung dầu của Nga, cũng như kỳ vọng đàm phán Nga – Ukraine có tiến triển.

Diễn biến tương tự cũng được quan sát thấy ở giá vàng thế giới, khi có thời điểm vượt mức 2.050 USD/ounce và giảm nhiệt trở lại.

Trong tuần qua, dữ liệu về chỉ số CPI tháng 2 của Mỹ cũng được công bố, với mức tăng 7,9% so với cùng kỳ, tương đồng với dự báo của các chuyên gia. Trong tuần này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ có cuộc họp quan trọng vào ngày 15 - 16/3, và thị trường đang dự báo xác suất FED nâng lãi suất cơ sở từ 0,0% - 0,25% lên 0,25% - 0,50% là 95%. Đồng USD, nhờ vậy vẫn duy trì sức mạnh của mình, với mức tăng 0,5%. Các đồng tiền chủ chốt khác đều mất giá như EUR giảm -0,15%, GBP -1,5%,…

Lãi suất huy động đã nhích lên ở một số ngân hàng

Trên thị trường trong nước tuần qua, đồng USD giao dịch tương đối ổn định. Trên thị trường liên ngân hàng, USD/VND giao dịch ổn định quanh mức 22.850 đồng/USD, trong khi tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại tăng 30 đồng, kết tuần ở mức 22.700/23.010 đồng (mua vào/bán ra). Tỷ giá trên thị trường tự do cũng không có nhiều biến động mạnh trong tuần và giao dịch ở 23.485/23.540 đồng./.

Thái Duy

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 22:00
Ngân hàng