Lãi suất tiết kiệm 17/2: Một số ngân hàng công bố biểu lãi suất mới

(TBTCO) - Lãi suất ngân hàng ngày 17/2/2025 tiếp tục chứng kiến sự biến động mạnh mẽ khi một số ngân hàng điều chỉnh mức lãi suất huy động. Trong khi nhiều ngân hàng tăng lãi suất, thì một số lại giảm lãi suất sau những đợt tăng trước đó.
aa
Lãi suất ngân hàng ngày 17/2/2025: Nhiều điều chỉnh lãi suất chiều tăng - giảm
Lãi suất ngân hàng ngày 17/2/2025 ghi nhận nhiều điều chỉnh cả tăng lẫn giảm. Ảnh tư liệu

Các ngân hàng có động thái tăng lãi suất gồm có: Agribank, Bac A Bank, NCB, MBV, VietBank, ABBank, BaoViet Bank, BVBank, Techcombank, Viet A Bank. Những ngân hàng này hiện đang niêm yết các mức lãi suất cao cho các kỳ hạn dài, từ 12 tháng trở lên, hấp dẫn nhiều người gửi tiết kiệm.

Bên cạnh các ngân hàng tăng lãi suất, một số ngân hàng cũng đã điều chỉnh giảm lãi suất sau khi nâng mức lãi suất trong các tháng trước. Các ngân hàng như: NCB, ABBank, Eximbank và Agribank là những đơn vị thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất ở một số kỳ hạn, khiến mức lãi suất huy động có sự biến động đáng kể.

Các ngân hàng như SeABank, Nam A Bank và Bac A Bank đã giảm lãi suất ở một số kỳ hạn và đưa mức lãi suất huy động về mức thấp hơn so với trước. Bac A Bank, trong tháng 1 và tháng 2, là một trong số ít ngân hàng đã thực hiện giảm lãi suất, phản ánh sự thay đổi chiến lược của ngân hàng này trong việc cạnh tranh trên thị trường.

Một số ngân hàng cập nhật biểu lãi suất huy động ngày 17/2:

- Vikki Bank lãi suất kỳ hạn 1-2 tháng là 3,95%/năm, kỳ hạn 3 tháng là 3,05%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 5,4%/năm, kỳ hạn 12 tháng đạt 5,7%/năm, và 5,9%/năm cho kỳ hạn 13 tháng.

Ngân hàng DongA Bank vừa công bố việc đổi tên thương mại chính thức thành Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số Vikki (Vikki Digital Bank Limited), viết tắt là Vikki Bank.

- VCBNeo (tên mới của CBBank), lãi suất huy động áp dụng theo từng kỳ hạn cụ thể, với kỳ hạn 1-2 tháng là 4,05%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng là 4,25%/năm, kỳ hạn 6 - 8 tháng tăng lên 5,65%/năm, trong khi kỳ hạn 10 - 11 tháng là 5,7%/năm. Đối với kỳ hạn 12 tháng, khách hàng được hưởng mức 5,75%/năm, còn các kỳ hạn dài hơn (13 - 60 tháng) có mức đồng nhất 5,9%/năm.

- MBV (tên mới của OceanBank) hiện áp dụng lãi suất huy động online với mức 4,3%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, 4,4%/năm cho kỳ hạn 2 tháng, 4,6%/năm cho kỳ hạn 3 tháng, 4,7%/năm cho kỳ hạn 4-5 tháng. Đối với các kỳ hạn 6-8 tháng, ngân hàng này trả mức 5,5%/năm, từ 9-11 tháng là 5,4%/năm, còn kỳ hạn 12, 13 và 15 tháng là 5,8%/năm. Đáng chú ý, mức 6,1%/năm hiện là lãi suất cao nhất của MBV, áp dụng cho kỳ hạn 18, 24 và 36 tháng.

Ngoài ra, một số ngân hàng vẫn áp dụng mức lãi suất cao 7% kèm theo điều kiện đặc biệt.

- PVcomBank dẫn đầu với 9%/năm (kỳ hạn 12 - 13 tháng) khi gửi tại quầy, điều kiện yêu cầu số dư tối thiểu 2.000 tỷ đồng.

- HDBank áp dụng mức lãi suất 8,1%/năm (kỳ hạn 13 tháng), 7,7%/năm (kỳ hạn 12 tháng) cho khách hàng có số dư tối thiểu 500 tỷ đồng.

- MSB áp dụng mức lãi suất 8%/năm (kỳ hạn 13 tháng), 7%/năm (kỳ hạn 12 tháng) với điều kiện tối thiểu 500 tỷ đồng từ sổ tiết kiệm mở mới hoặc tự động gia hạn từ 1/1/2018.

- Dong A Bank áp dụng mức lãi suất 7,5%/năm (kỳ hạn từ 13 tháng trở lên, yêu cầu số tiền tối thiểu 200 tỷ đồng), kỳ hạn 24 tháng là 6,1%/năm.

- Bac A Bank áp dụng mức lãi suất cao nhất 6,2%/năm (kỳ hạn 18-36 tháng) với khoản tiền gửi trên 1 tỷ đồng.

Trong khi đó, nhiều ngân hàng áp dụng mức trên 6%/năm cho các khoản tiền gửi online, không yêu cầu số dư tối thiểu.

- Eximbank áp dụng mức lãi suất 6,2 - 6,6%/năm (kỳ hạn 15 - 34 tháng).

- BVBank duy trì mức lãi suất 6,05% - 6,45%/năm (kỳ hạn 12 - 36 tháng).

- IVB áp dụng mức lãi suất cao nhất 6,45%/năm (kỳ hạn 5 - 15 năm), 6,25%/năm (kỳ hạn 48 tháng), 6,15%/năm (kỳ hạn 36 tháng), 6,05%/năm (kỳ hạn 12 tháng).

- KienLongBank áp dụng mức lãi suất 6,1% (kỳ hạn 12 - 24 tháng), 6,3% (kỳ hạn 36 tháng), cao nhất 6,4% (kỳ hạn 60 tháng).

- VRB, VietABank, SaigonBank, HDBank, BAOVIET Bank, ABBank cũng áp dụng mức lãi suất từ 6%/năm.

Lãi suất ngân hàng ngày 17/2/2025 cho thấy sự điều chỉnh đáng kể từ các ngân hàng, với một số ngân hàng tiếp tục tăng lãi suất và một số khác điều chỉnh giảm sau đợt tăng trước đó. Việc chọn lựa ngân hàng và kỳ hạn gửi tiết kiệm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận từ lãi suất, vì vậy người gửi tiết kiệm cần cân nhắc kỹ càng khi lựa chọn sản phẩm gửi tiền phù hợp.

Hà Linh (tổng hợp)

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00