Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
aa
Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn Giữ “dây cương” quản trị rủi ro trong cuộc đua tăng trưởng ngành ngân hàng Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Dư địa nới lỏng tiền tệ thu hẹp, ngân hàng đứng trước nhiều thách thức

Chia sẻ tại chương trình Data Talk - The Catalyst bàn về những thuận lợi và thách thức của ngành ngân hàng năm 2026 vừa được tổ chức, ông Nguyễn Văn Trúc - Trưởng phòng Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Quốc gia (NSI) cho rằng, có nhiều yếu tố nhìn nhận triển vọng của ngành với sự lạc quan.

Về mặt thuận lợi, ông Trúc phân tích, định hướng của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026 rất rõ ràng, dù đây là mục tiêu rất thách thức. Trước đó, năm 2025 được xem là năm bản lề khi hàng loạt nghị quyết quan trọng được ban hành, từng bước định hình các trụ cột chính sách và khung phát triển, tạo nền tảng thể chế thuận lợi hơn cho nền kinh tế trong 5 năm tới.

Khi tăng trưởng kinh tế thực chất, nhu cầu hấp thụ vốn của doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ gia tăng. Cùng với đó, các đơn hàng xuất khẩu có khả năng quay trở lại, trong khi dòng vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất tiếp tục được thúc đẩy.

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?
Các chuyên gia phân tích về thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến tăng trưởng ngành ngân hàng tại Data Talk - The Catalyst. Ảnh tư liệu.

Dù vậy, chuyên gia phân tích của NSI cho rằng, mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 thực tế không phải quá cao (thấp hơn mức 19% của năm 2025). Vì thế, năm 2026 có thể là giai đoạn tăng trưởng mang tính thực chất hơn.

Về thách thức, khi cầu vốn tăng, nguồn cung cũng phải theo kịp. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026, quy mô vốn bơm ra nền kinh tế thực tế không chênh lệch nhiều so với năm trước, song bài toán lớn là làm sao cung cấp nguồn vốn này với chi phí hợp lý, không chỉ với Ngân hàng Nhà nước, mà còn với toàn hệ thống ngân hàng thương mại.

Lãi suất tăng 200 - 300 điểm cơ bản, áp lực nợ xấu hiện hữu

"Một thách thức lớn khác của ngành ngân hàng là khả năng kiểm soát nợ xấu. Theo thống kê, lãi suất tiết kiệm đã tăng khoảng 200 - 300 điểm cơ bản so với cả năm 2025 và lãi suất thị trường, lãi suất cơ sở những khoản vay thả nổi cũng tăng tương ứng. Trong ngắn hạn, điều này sẽ là thách thức lớn với khách hàng vay, trong việc đảm bảo chi trả những khoản vay đến hạn năm 2026. Đây có thể là rủi ro rất đáng chú ý, nợ xấu có thể gia tăng trở lại trong năm 2026".

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng
cao cấp Trung tâm phân tích,
Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC).

Theo ông Trúc, về yếu tố then chốt quyết định sự sống còn, triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, cần lưu ý hai biến số chính.

Trước hết, cần bám sát các yếu tố vĩ mô. Nếu như năm 2025 xuất hiện rủi ro liên quan đến thuế quan, thì sang năm 2026, những rủi ro này không mất đi, mà có thể gia tăng khi cộng thêm các yếu tố bất ổn địa chính trị.

Thứ hai, năm 2026, các ngân hàng cần đặc biệt chú trọng quản trị yếu tố thanh khoản.

Khi giá dầu tăng mạnh, áp lực lạm phát tại Việt Nam cũng gia tăng, buộc mặt bằng lãi suất phải duy trì ở mức hợp lý để kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, lãi suất trên thị trường 1 và thị trường 2 của hệ thống ngân hàng đã ở mức cao hơn so với trước.

Nhìn nhận thách thức với ngành ngân hàng, ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) chỉ rõ, khó khăn lớn nhất là dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ đã thu hẹp đáng kể.

Điều này phản ánh định hướng điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng và định hướng dòng vốn. Thực tế, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất cho vay, trong đó, các khoản vay bất động sản phổ biến ở mức 10 - 14%, còn các khoản vay khác cũng tăng khoảng 200 điểm cơ bản so với năm 2025. Theo đó, tín dụng được dự báo sẽ hạn chế vào bất động sản và chuyển hướng nhiều hơn sang thương mại, sản xuất.

Bối cảnh này cũng kéo theo những thách thức khác, đặc biệt về mặt bằng lãi suất, tăng trưởng tín dụng và nguy cơ nợ xấu.

"Tăng trưởng trong năm 2025 đã đẩy mặt bằng lãi suất lên khá cao cuối năm ngoái và tiếp diễn đầu năm 2026. Thống kê ở rất nhiều ngân hàng, mức lãi suất tiền gửi huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng đã tăng đến 200 - 300 điểm cơ bản" - ông Tùng nhấn mạnh.

Một vấn đề đáng chú ý là thanh khoản hệ thống. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 1,4%; tăng trưởng huy động chỉ khoảng 0,8%. Theo chuyên gia của VDSC, khoảng cách giữa tín dụng và huy động tồn tại từ năm 2023 đến nay, các yếu tố tích lũy dần tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất từ cuối năm 2025.

Hội tụ lợi thế, các ngân hàng “đầu tàu” dẫn dắt tăng trưởng

Trong bối cảnh đan xen nhiều thách thức, thuận lợi, ông Nguyễn Văn Trúc đánh giá, nhóm ngân hàng đã có sự chuẩn bị từ nhiều năm trước về hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống quản trị, đặc biệt là tệp khách hàng lớn, sẽ có lợi thế. Điển hình là các ngân hàng nằm trong những tập đoàn lớn, có hệ sinh thái rộng và tệp khách hàng đủ lớn như Techcombank.

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?
Nhiều ngân hàng được kỳ vọng làm “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng. Ảnh minh họa.

Ông Trúc chỉ rõ, nếu huy động từ dân cư gặp khó khăn, ngân hàng có thể chuyển sang kênh trái phiếu, như Techcombank vẫn dễ dàng phát hành 8.000 - 10.000 tỷ đồng, trong khi nhiều ngân hàng khác phải rất nỗ lực mới phân phối được 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Techcombank còn có lợi thế với Công ty Chứng khoán TCBS mạnh về số hóa và phân phối sản phẩm đầu tư.

"Năm 2026 sẽ là năm chọn lọc, thích nghi và những ngân hàng đã có sự chuẩn bị, có hệ thống quản trị, hệ sinh thái, tệp khách hàng ổn định đủ rộng sẽ là những ngân hàng có khả năng bứt phá" - chuyên gia của NSI nhấn mạnh.

Trong khi đó, ông Đỗ Thanh Tùng nhận định, những ngân hàng dẫn dắt tăng trưởng năm 2026 sẽ không ai khác ngoài những ngân hàng nhận cơ cấu các ngân hàng yếu kém, bao gồm MB, VPBank hay HDBank.

"Những ngân hàng này có hạn mức tăng trưởng tín dụng năm nay xấp xỉ 30%, cao vượt trội so với mặt bằng chung (mức chung chỉ 10 - 12%). Đó sẽ là lợi thế rất lớn cho các ngân hàng trong vấn đề tăng trưởng tín dụng, cũng như quy mô tổng tài sản" - ông Tùng phân tích.

Đồng quan điểm, ông Trúc cũng cho rằng, đây là phần thưởng xứng đáng cho nhóm ngân hàng lớn đã tiên phong nhận chuyển giao các tổ chức tín dụng yếu kém.

Đặc biệt, chuyên gia của NSI cũng chú ý đến nhóm "big 4", với lợi thế về chi phí vốn khi mặt bằng lãi suất đầu vào thấp hơn so với toàn hệ thống, qua đó giúp duy trì biên lãi ròng (NIM) ổn định. Các ngân hàng quốc doanh cũng là những tổ chức tín dụng chủ lực cung cấp vốn cho các dự án đầu tư công, qua đó, tạo thêm dư địa tăng trưởng.

Theo chuyên gia của NSI, đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng của ngành ngân hàng trong năm nay gồm hai nhóm chính: nhóm ngân hàng tiên phong nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém và nhóm ngân hàng quốc doanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,000 14,300
Miếng SJC Nghệ An 14,000 14,300
Miếng SJC Thái Bình 14,000 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 14,300
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,580 14,180
Trang sức 99.99 13,590 14,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 140 14,302
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 140 14,303
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,395 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cập nhật: 08/10/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17545 17818 18397
CAD 17729 18003 18624
CHF 30566 30942 31584
CNY 0 3833 3929
EUR 28450 28667 29747
GBP 33532 33920 34868
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14240 14827
SGD 19759 20041 20612
THB 686 749 803
USD (1,2) 25722 0 0
USD (5,10,20) 25761 0 0
USD (50,100) 25789 25803 26173
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 28,591 28,614 29,972
JPY 159.65 159.94 169.62
GBP 33,797 33,889 35,062
AUD 17,772 17,836 18,517
CAD 17,928 17,986 18,648
CHF 30,816 30,912 31,823
SGD 19,891 19,953 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,390
KRW 17.86 18.63 20.28
THB 735.58 744.66 797.56
NZD 14,247 14,379 14,808
SEK - 2,544 2,636
DKK - 3,835 3,971
NOK - 2,670 2,764
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,942.67 - 6,706.83
TWD 735.92 - 891.61
SAR - 6,803.67 7,166.81
KWD - 82,055 87,314
AED - 6,819 7,348
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 28,738 28,853 30,060
GBP 33,869 34,005 35,038
HKD 3,245 3,258 3,375
CHF 30,710 30,833 31,779
JPY 160.38 161.02 169
AUD 17,840 17,912 18,511
SGD 19,996 20,076 20,673
THB 754 757 794
CAD 17,969 18,041 18,640
NZD 14,361 14,917
KRW 18.73 20.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25775 25805 26165
AUD 17751 17851 18782
CAD 17915 18015 19028
CHF 30780 30810 32387
CNY 3815.7 3840.7 3975.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28632 28662 30388
GBP 33870 33920 35683
HKD 0 3315 0
JPY 160.65 161.15 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14362 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19922 20052 20776
THB 0 715.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 08/10/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30