Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
aa
Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn Giữ “dây cương” quản trị rủi ro trong cuộc đua tăng trưởng ngành ngân hàng Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Dư địa nới lỏng tiền tệ thu hẹp, ngân hàng đứng trước nhiều thách thức

Chia sẻ tại chương trình Data Talk - The Catalyst bàn về những thuận lợi và thách thức của ngành ngân hàng năm 2026 vừa được tổ chức, ông Nguyễn Văn Trúc - Trưởng phòng Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Quốc gia (NSI) cho rằng, có nhiều yếu tố nhìn nhận triển vọng của ngành với sự lạc quan.

Về mặt thuận lợi, ông Trúc phân tích, định hướng của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026 rất rõ ràng, dù đây là mục tiêu rất thách thức. Trước đó, năm 2025 được xem là năm bản lề khi hàng loạt nghị quyết quan trọng được ban hành, từng bước định hình các trụ cột chính sách và khung phát triển, tạo nền tảng thể chế thuận lợi hơn cho nền kinh tế trong 5 năm tới.

Khi tăng trưởng kinh tế thực chất, nhu cầu hấp thụ vốn của doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ gia tăng. Cùng với đó, các đơn hàng xuất khẩu có khả năng quay trở lại, trong khi dòng vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất tiếp tục được thúc đẩy.

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?
Các chuyên gia phân tích về thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến tăng trưởng ngành ngân hàng tại Data Talk - The Catalyst. Ảnh tư liệu.

Dù vậy, chuyên gia phân tích của NSI cho rằng, mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 thực tế không phải quá cao (thấp hơn mức 19% của năm 2025). Vì thế, năm 2026 có thể là giai đoạn tăng trưởng mang tính thực chất hơn.

Về thách thức, khi cầu vốn tăng, nguồn cung cũng phải theo kịp. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026, quy mô vốn bơm ra nền kinh tế thực tế không chênh lệch nhiều so với năm trước, song bài toán lớn là làm sao cung cấp nguồn vốn này với chi phí hợp lý, không chỉ với Ngân hàng Nhà nước, mà còn với toàn hệ thống ngân hàng thương mại.

Lãi suất tăng 200 - 300 điểm cơ bản, áp lực nợ xấu hiện hữu

"Một thách thức lớn khác của ngành ngân hàng là khả năng kiểm soát nợ xấu. Theo thống kê, lãi suất tiết kiệm đã tăng khoảng 200 - 300 điểm cơ bản so với cả năm 2025 và lãi suất thị trường, lãi suất cơ sở những khoản vay thả nổi cũng tăng tương ứng. Trong ngắn hạn, điều này sẽ là thách thức lớn với khách hàng vay, trong việc đảm bảo chi trả những khoản vay đến hạn năm 2026. Đây có thể là rủi ro rất đáng chú ý, nợ xấu có thể gia tăng trở lại trong năm 2026".

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng
cao cấp Trung tâm phân tích,
Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC).

Theo ông Trúc, về yếu tố then chốt quyết định sự sống còn, triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, cần lưu ý hai biến số chính.

Trước hết, cần bám sát các yếu tố vĩ mô. Nếu như năm 2025 xuất hiện rủi ro liên quan đến thuế quan, thì sang năm 2026, những rủi ro này không mất đi, mà có thể gia tăng khi cộng thêm các yếu tố bất ổn địa chính trị.

Thứ hai, năm 2026, các ngân hàng cần đặc biệt chú trọng quản trị yếu tố thanh khoản.

Khi giá dầu tăng mạnh, áp lực lạm phát tại Việt Nam cũng gia tăng, buộc mặt bằng lãi suất phải duy trì ở mức hợp lý để kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, lãi suất trên thị trường 1 và thị trường 2 của hệ thống ngân hàng đã ở mức cao hơn so với trước.

Nhìn nhận thách thức với ngành ngân hàng, ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) chỉ rõ, khó khăn lớn nhất là dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ đã thu hẹp đáng kể.

Điều này phản ánh định hướng điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng và định hướng dòng vốn. Thực tế, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất cho vay, trong đó, các khoản vay bất động sản phổ biến ở mức 10 - 14%, còn các khoản vay khác cũng tăng khoảng 200 điểm cơ bản so với năm 2025. Theo đó, tín dụng được dự báo sẽ hạn chế vào bất động sản và chuyển hướng nhiều hơn sang thương mại, sản xuất.

Bối cảnh này cũng kéo theo những thách thức khác, đặc biệt về mặt bằng lãi suất, tăng trưởng tín dụng và nguy cơ nợ xấu.

"Tăng trưởng trong năm 2025 đã đẩy mặt bằng lãi suất lên khá cao cuối năm ngoái và tiếp diễn đầu năm 2026. Thống kê ở rất nhiều ngân hàng, mức lãi suất tiền gửi huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng đã tăng đến 200 - 300 điểm cơ bản" - ông Tùng nhấn mạnh.

Một vấn đề đáng chú ý là thanh khoản hệ thống. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 1,4%; tăng trưởng huy động chỉ khoảng 0,8%. Theo chuyên gia của VDSC, khoảng cách giữa tín dụng và huy động tồn tại từ năm 2023 đến nay, các yếu tố tích lũy dần tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất từ cuối năm 2025.

Hội tụ lợi thế, các ngân hàng “đầu tàu” dẫn dắt tăng trưởng

Trong bối cảnh đan xen nhiều thách thức, thuận lợi, ông Nguyễn Văn Trúc đánh giá, nhóm ngân hàng đã có sự chuẩn bị từ nhiều năm trước về hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống quản trị, đặc biệt là tệp khách hàng lớn, sẽ có lợi thế. Điển hình là các ngân hàng nằm trong những tập đoàn lớn, có hệ sinh thái rộng và tệp khách hàng đủ lớn như Techcombank.

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?
Nhiều ngân hàng được kỳ vọng làm “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng. Ảnh minh họa.

Ông Trúc chỉ rõ, nếu huy động từ dân cư gặp khó khăn, ngân hàng có thể chuyển sang kênh trái phiếu, như Techcombank vẫn dễ dàng phát hành 8.000 - 10.000 tỷ đồng, trong khi nhiều ngân hàng khác phải rất nỗ lực mới phân phối được 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Techcombank còn có lợi thế với Công ty Chứng khoán TCBS mạnh về số hóa và phân phối sản phẩm đầu tư.

"Năm 2026 sẽ là năm chọn lọc, thích nghi và những ngân hàng đã có sự chuẩn bị, có hệ thống quản trị, hệ sinh thái, tệp khách hàng ổn định đủ rộng sẽ là những ngân hàng có khả năng bứt phá" - chuyên gia của NSI nhấn mạnh.

Trong khi đó, ông Đỗ Thanh Tùng nhận định, những ngân hàng dẫn dắt tăng trưởng năm 2026 sẽ không ai khác ngoài những ngân hàng nhận cơ cấu các ngân hàng yếu kém, bao gồm MB, VPBank hay HDBank.

"Những ngân hàng này có hạn mức tăng trưởng tín dụng năm nay xấp xỉ 30%, cao vượt trội so với mặt bằng chung (mức chung chỉ 10 - 12%). Đó sẽ là lợi thế rất lớn cho các ngân hàng trong vấn đề tăng trưởng tín dụng, cũng như quy mô tổng tài sản" - ông Tùng phân tích.

Đồng quan điểm, ông Trúc cũng cho rằng, đây là phần thưởng xứng đáng cho nhóm ngân hàng lớn đã tiên phong nhận chuyển giao các tổ chức tín dụng yếu kém.

Đặc biệt, chuyên gia của NSI cũng chú ý đến nhóm "big 4", với lợi thế về chi phí vốn khi mặt bằng lãi suất đầu vào thấp hơn so với toàn hệ thống, qua đó giúp duy trì biên lãi ròng (NIM) ổn định. Các ngân hàng quốc doanh cũng là những tổ chức tín dụng chủ lực cung cấp vốn cho các dự án đầu tư công, qua đó, tạo thêm dư địa tăng trưởng.

Theo chuyên gia của NSI, đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng của ngành ngân hàng trong năm nay gồm hai nhóm chính: nhóm ngân hàng tiên phong nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém và nhóm ngân hàng quốc doanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80