Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
aa
Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn Giữ “dây cương” quản trị rủi ro trong cuộc đua tăng trưởng ngành ngân hàng Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Dư địa nới lỏng tiền tệ thu hẹp, ngân hàng đứng trước nhiều thách thức

Chia sẻ tại chương trình Data Talk - The Catalyst bàn về những thuận lợi và thách thức của ngành ngân hàng năm 2026 vừa được tổ chức, ông Nguyễn Văn Trúc - Trưởng phòng Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Quốc gia (NSI) cho rằng, có nhiều yếu tố nhìn nhận triển vọng của ngành với sự lạc quan.

Về mặt thuận lợi, ông Trúc phân tích, định hướng của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026 rất rõ ràng, dù đây là mục tiêu rất thách thức. Trước đó, năm 2025 được xem là năm bản lề khi hàng loạt nghị quyết quan trọng được ban hành, từng bước định hình các trụ cột chính sách và khung phát triển, tạo nền tảng thể chế thuận lợi hơn cho nền kinh tế trong 5 năm tới.

Khi tăng trưởng kinh tế thực chất, nhu cầu hấp thụ vốn của doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ gia tăng. Cùng với đó, các đơn hàng xuất khẩu có khả năng quay trở lại, trong khi dòng vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất tiếp tục được thúc đẩy.

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?
Các chuyên gia phân tích về thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến tăng trưởng ngành ngân hàng tại Data Talk - The Catalyst. Ảnh tư liệu.

Dù vậy, chuyên gia phân tích của NSI cho rằng, mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 thực tế không phải quá cao (thấp hơn mức 19% của năm 2025). Vì thế, năm 2026 có thể là giai đoạn tăng trưởng mang tính thực chất hơn.

Về thách thức, khi cầu vốn tăng, nguồn cung cũng phải theo kịp. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026, quy mô vốn bơm ra nền kinh tế thực tế không chênh lệch nhiều so với năm trước, song bài toán lớn là làm sao cung cấp nguồn vốn này với chi phí hợp lý, không chỉ với Ngân hàng Nhà nước, mà còn với toàn hệ thống ngân hàng thương mại.

Lãi suất tăng 200 - 300 điểm cơ bản, áp lực nợ xấu hiện hữu

"Một thách thức lớn khác của ngành ngân hàng là khả năng kiểm soát nợ xấu. Theo thống kê, lãi suất tiết kiệm đã tăng khoảng 200 - 300 điểm cơ bản so với cả năm 2025 và lãi suất thị trường, lãi suất cơ sở những khoản vay thả nổi cũng tăng tương ứng. Trong ngắn hạn, điều này sẽ là thách thức lớn với khách hàng vay, trong việc đảm bảo chi trả những khoản vay đến hạn năm 2026. Đây có thể là rủi ro rất đáng chú ý, nợ xấu có thể gia tăng trở lại trong năm 2026".

Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng
cao cấp Trung tâm phân tích,
Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC).

Theo ông Trúc, về yếu tố then chốt quyết định sự sống còn, triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, cần lưu ý hai biến số chính.

Trước hết, cần bám sát các yếu tố vĩ mô. Nếu như năm 2025 xuất hiện rủi ro liên quan đến thuế quan, thì sang năm 2026, những rủi ro này không mất đi, mà có thể gia tăng khi cộng thêm các yếu tố bất ổn địa chính trị.

Thứ hai, năm 2026, các ngân hàng cần đặc biệt chú trọng quản trị yếu tố thanh khoản.

Khi giá dầu tăng mạnh, áp lực lạm phát tại Việt Nam cũng gia tăng, buộc mặt bằng lãi suất phải duy trì ở mức hợp lý để kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, lãi suất trên thị trường 1 và thị trường 2 của hệ thống ngân hàng đã ở mức cao hơn so với trước.

Nhìn nhận thách thức với ngành ngân hàng, ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) chỉ rõ, khó khăn lớn nhất là dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ đã thu hẹp đáng kể.

Điều này phản ánh định hướng điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng và định hướng dòng vốn. Thực tế, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất cho vay, trong đó, các khoản vay bất động sản phổ biến ở mức 10 - 14%, còn các khoản vay khác cũng tăng khoảng 200 điểm cơ bản so với năm 2025. Theo đó, tín dụng được dự báo sẽ hạn chế vào bất động sản và chuyển hướng nhiều hơn sang thương mại, sản xuất.

Bối cảnh này cũng kéo theo những thách thức khác, đặc biệt về mặt bằng lãi suất, tăng trưởng tín dụng và nguy cơ nợ xấu.

"Tăng trưởng trong năm 2025 đã đẩy mặt bằng lãi suất lên khá cao cuối năm ngoái và tiếp diễn đầu năm 2026. Thống kê ở rất nhiều ngân hàng, mức lãi suất tiền gửi huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng đã tăng đến 200 - 300 điểm cơ bản" - ông Tùng nhấn mạnh.

Một vấn đề đáng chú ý là thanh khoản hệ thống. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 1,4%; tăng trưởng huy động chỉ khoảng 0,8%. Theo chuyên gia của VDSC, khoảng cách giữa tín dụng và huy động tồn tại từ năm 2023 đến nay, các yếu tố tích lũy dần tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất từ cuối năm 2025.

Hội tụ lợi thế, các ngân hàng “đầu tàu” dẫn dắt tăng trưởng

Trong bối cảnh đan xen nhiều thách thức, thuận lợi, ông Nguyễn Văn Trúc đánh giá, nhóm ngân hàng đã có sự chuẩn bị từ nhiều năm trước về hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống quản trị, đặc biệt là tệp khách hàng lớn, sẽ có lợi thế. Điển hình là các ngân hàng nằm trong những tập đoàn lớn, có hệ sinh thái rộng và tệp khách hàng đủ lớn như Techcombank.

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?
Nhiều ngân hàng được kỳ vọng làm “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng. Ảnh minh họa.

Ông Trúc chỉ rõ, nếu huy động từ dân cư gặp khó khăn, ngân hàng có thể chuyển sang kênh trái phiếu, như Techcombank vẫn dễ dàng phát hành 8.000 - 10.000 tỷ đồng, trong khi nhiều ngân hàng khác phải rất nỗ lực mới phân phối được 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Techcombank còn có lợi thế với Công ty Chứng khoán TCBS mạnh về số hóa và phân phối sản phẩm đầu tư.

"Năm 2026 sẽ là năm chọn lọc, thích nghi và những ngân hàng đã có sự chuẩn bị, có hệ thống quản trị, hệ sinh thái, tệp khách hàng ổn định đủ rộng sẽ là những ngân hàng có khả năng bứt phá" - chuyên gia của NSI nhấn mạnh.

Trong khi đó, ông Đỗ Thanh Tùng nhận định, những ngân hàng dẫn dắt tăng trưởng năm 2026 sẽ không ai khác ngoài những ngân hàng nhận cơ cấu các ngân hàng yếu kém, bao gồm MB, VPBank hay HDBank.

"Những ngân hàng này có hạn mức tăng trưởng tín dụng năm nay xấp xỉ 30%, cao vượt trội so với mặt bằng chung (mức chung chỉ 10 - 12%). Đó sẽ là lợi thế rất lớn cho các ngân hàng trong vấn đề tăng trưởng tín dụng, cũng như quy mô tổng tài sản" - ông Tùng phân tích.

Đồng quan điểm, ông Trúc cũng cho rằng, đây là phần thưởng xứng đáng cho nhóm ngân hàng lớn đã tiên phong nhận chuyển giao các tổ chức tín dụng yếu kém.

Đặc biệt, chuyên gia của NSI cũng chú ý đến nhóm "big 4", với lợi thế về chi phí vốn khi mặt bằng lãi suất đầu vào thấp hơn so với toàn hệ thống, qua đó giúp duy trì biên lãi ròng (NIM) ổn định. Các ngân hàng quốc doanh cũng là những tổ chức tín dụng chủ lực cung cấp vốn cho các dự án đầu tư công, qua đó, tạo thêm dư địa tăng trưởng.

Theo chuyên gia của NSI, đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng của ngành ngân hàng trong năm nay gồm hai nhóm chính: nhóm ngân hàng tiên phong nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém và nhóm ngân hàng quốc doanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 15,100
Kim TT/AVPL 14,800 15,100
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,800 15,100
Nguyên Liệu 99.99 13,560 13,760
Nguyên Liệu 99.9 13,510 13,710
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,060 14,560
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,010 14,510
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,940 14,490
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,000 151,000
Hà Nội - PNJ 148,000 151,000
Đà Nẵng - PNJ 148,000 151,000
Miền Tây - PNJ 148,000 151,000
Tây Nguyên - PNJ 148,000 151,000
Đông Nam Bộ - PNJ 148,000 151,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 15,100
Miếng SJC Nghệ An 14,800 15,100
Miếng SJC Thái Bình 14,800 15,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,650 15,000
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,190 14,890
Trang sức 99.99 14,200 14,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 15,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 15,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 1,509
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 151
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 1,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,921 147,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,711 112,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,252 101,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,793 91,293
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,759 87,259
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,956 62,456
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cập nhật: 07/07/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17699 17972 18548
CAD 17961 18236 18856
CHF 31988 32370 33015
CNY 0 3828 3922
EUR 29397 29618 30699
GBP 34276 34667 35605
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14635 15223
SGD 19789 20070 20645
THB 705 768 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,539 29,563 30,950
JPY 157.78 158.06 167.46
GBP 34,440 34,533 35,708
AUD 17,889 17,954 18,623
CAD 18,165 18,223 18,878
CHF 32,262 32,362 33,289
SGD 19,913 19,975 20,748
CNY - 3,800 3,942
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.84 16.52 17.96
THB 753.11 762.41 815.58
NZD 14,624 14,760 15,186
SEK - 2,678 2,771
DKK - 3,952 4,088
NOK - 2,630 2,720
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,024.92 - 6,797.46
TWD 739.49 - 895.08
SAR - 6,887.37 7,248.58
KWD - 83,223 88,475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,465 34,603 35,632
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,140 32,269 33,202
JPY 158.50 159.14 167
AUD 17,886 17,958 18,552
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 772 775 811
CAD 18,172 18,245 18,813
NZD 14,720 15,257
KRW 16.48 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17871 17971 18902
CAD 18130 18230 19244
CHF 32227 32257 33843
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29565 29595 31321
GBP 34559 34609 36378
HKD 0 3355 0
JPY 158.53 159.03 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14737 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19945 20075 20800
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80