Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
aa
"Thức tỉnh" thị trường cho thuê tài chính còn "ngủ quên" trước tiềm năng Pháp lý "lỗi thời", công ty cho thuê tài chính "kẹt" trong xử lý nợ xấu Cho thuê tài chính “mở cửa” với tài sản vô hình, nới ngưỡng khoản giá trị nhỏ gấp 4 lần

Tăng trưởng bền, giữ chắc an toàn

Ngày 20/3, tại Ninh Bình, Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam tổ chức Hội nghị thường niên lần thứ ba nhiệm kỳ V (2023 - 2027).

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Thiều Sơn - Tổng Giám đốc Công ty cho thuê tài chính BIDV-SuMi TRUST (BSL), Chủ tịch Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cho rằng, bước sang năm 2026, kinh tế trong nước đang bước vào một kỷ nguyên mới, với nhiều khát vọng phát triển, đổi mới, trong khi kinh tế quốc tế vẫn tiềm ẩn không ít bất ổn.

"Các công ty cho thuê tài chính dù đối mặt với không ít những khó khăn và thách thức trong hoạt động; đồng thời, cũng có rất nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh và đòi hỏi chúng ta phải cùng nhau tìm ra những hướng đi mới phù hợp hơn với giai đoạn mới của nền kinh tế trong nước, cũng như quốc tế" - ông Sơn nhấn mạnh.

Chủ tịch Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc chia sẻ thông tin thị trường, cùng định hướng nhằm tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh giữa các hiệp hội và doanh nghiệp, qua đó, chung tay vượt qua thách thức, thúc đẩy đổi mới và phát triển bền vững trong thời gian tới.

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới
Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam tổ chức Hội nghị thường niên lần thứ ba nhiệm kỳ V (2023 - 2027). Ảnh tư liệu.

Phác họa rõ nét hơn bức tranh kinh doanh các doanh nghiệp cho thuê tài chính năm qua, TS. Phạm Xuân Hoè - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính cho biết, trong bối cảnh còn nhiều yếu tố bất định, các chỉ số tăng trưởng của ngành vẫn ghi nhận kết quả tích cực.

Theo đó, tổng tài sản của các hội viên cuối năm 2025 đạt trên 51 nghìn tỷ đồng, tăng 14,83%; tổng nguồn vốn đạt 28,89 nghìn tỷ đồng, tăng 23,37%.

Cho thuê tài chính giữ nhịp tăng trưởng “thực”

"Dư nợ cho thuê tài chính các hội viên đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38% so với năm 2024. Dù thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế (trên 19%), nhưng đây là mức tăng trưởng thực chất. Bởi cho thuê tài chính không thể nào phát triển vào những ngành khác như bất động sản, hay những lĩnh vực "ảo" của nền kinh tế, cho nên chủ yếu là cho thuê với các tài sản thực".

- TS. Phạm Xuân Hoè - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính.

Cùng chung quan điểm, ông Nguyễn Thiều Sơn cho rằng, dù tăng trưởng dư nợ ngành cho thuê tài chính thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung toàn nền kinh tế, nhưng các doanh nghiệp chú trọng đảm bảo chất lượng, an toàn.

"Chi phí dự phòng, tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%, cho thấy các doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề an toàn trong hoạt động" - Chủ tịch Hiệp hội Cho thuê tài chính khẳng định.

Cũng theo TS. Phạm Xuân Hòe, các chỉ số khác về: nợ xấu, sử dụng và trích lập dự phòng... đều trong tầm kiểm soát; trong khi thu nhập đã có cải thiện so với năm 2024.

Một điểm nhấn nổi bật là 100% khoản cấp tín dụng qua cho thuê tài chính đều được đánh giá rủi ro môi trường, một số khoản cho thuê tài chính để xanh hóa ngành dệt may đã được chú trọng, có thể được xem tín dụng xanh trong ngành cho thuê tài chính triển khai sớm và đầy đủ.

Dự báo những yếu tố gây thử thách cho ngành cho thuê tài chính năm 2026, ông Phạm Xuân Hoè cho rằng, trong bối cảnh biến động địa chính trị gia tăng, lạm phát và lãi suất sẽ là những yếu tố quyết định môi trường tín dụng ngân hàng; trong đó có hoạt động cho thuê tài chính.

Theo đó, xung đột tại Trung Đông dù ở xa, nhưng vẫn tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp. Lạm phát do chi phí đẩy tiếp tục là thách thức lớn đối với điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa, cũng như mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.

Lãi suất cho thuê tài chính hợp lý, "cởi trói" để bứt phá

Trao đổi tại Hội nghị, đại diện nhiều công ty cho thuê tài chính như: Sacombank-SBL, Vietcombank Leasing (VCBL), ACB Leasing, BIDV-SuMi TRUST (BSL), VietinBank Leasing, Chailease... đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị giúp phát triển ngành cho thuê tài chính.

Ông Nguyễn Trung Hà - Chủ tịch Hội đồng thành viên VCBL đề xuất Hiệp hội tổng hợp, cập nhật mức lãi suất bình quân từ các đơn vị thành viên và chia sẻ để các doanh nghiệp tham khảo. Qua đó, định hình mặt bằng chung, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh và hướng tới sự phát triển ổn định của thị trường.

Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam tổ chức Hội nghị thường niên
Lãnh đạo nhiều công ty cho thuê tài chính đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị giúp phát triển ngành cho thuê tài chính. Ảnh tư liệu.

Về mặt bằng lãi suất trong hoạt động cho thuê tài chính, ông Lưu Huỳnh - Chủ tịch Hội đồng thành viên Sacombank-SBL cho rằng, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, gần đây, lãi suất kỳ hạn hai tuần cũng ở mức 7 - 7,4%/năm, việc cho vay quanh 10%/năm cũng khó có lời.

"Về lãi suất, cần chung tay cùng với ngành, với Ngân hàng Nhà nước để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng chúng ta phải cho vay với lãi suất phù hợp" - ông Huỳnh nhấn mạnh.

Lãnh đạo Sacombank-SBL cũng bày tỏ trăn trở khi quy mô ngành cho thuê tài chính vẫn còn khá khiêm tốn, với tổng dư nợ khoảng 45 nghìn tỷ đồng, đặc biệt khi so sánh với quy mô dư nợ một chi nhánh ngân hàng.

Bên cạnh đó, sản phẩm cho thuê tài chính đã được định hình từ khá lâu, việc cải tiến hay phát triển sản phẩm mới khó có thể thực hiện "một sớm, một chiều". "Hy vọng Hiệp hội có chương trình hoặc đề án để chúng ta tự "cởi trói" - ông Huỳnh bày tỏ.

Dự kiến những nhiệm vụ trọng tâm triển khai năm 2026, TS. Phạm Xuân Hoè đề nghị các doanh nghiệp chủ động, nghiên cứu sâu về thị trường, ngành hàng, sáng tạo trong hoạt động kinh doanh để tăng trưởng dư nợ cho thuê tài chính và cho vay an toàn, hiệu quả.

Cùng với đó, Hiệp hội Cho thuê tài chính tiếp tục kiến nghị đến các cơ quan soạn thảo, ban hành văn bản về những vướng mắc, bất cập trong việc thực thi các quy định pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính như: các văn bản hướng dẫn đối với Luật Các tổ chức tín dụng 2024; tỷ lệ dư nợ trên vốn tự có phải báo cáo thông tin khách hàng liên quan...

Hiệp hội cũng tích cực góp ý cho Dự thảo thông tư thay thế Thông tư số 26/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 quy định về hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính tổng hợp, công ty cho thuê tài chính.

Cùng với đó, chủ động kết nối với các hiệp hội nghề nghiệp khác như: Hiệp hội Logistics và Hiệp hội Bệnh viện tư nhân... Hiệp hội sẽ tiếp tục kết nối, tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, chia sẻ cùng nhau để hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp. Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng bật mí thông tin kết nối thành công với Hiệp hội Bệnh viện tư nhân, quy tụ hơn 400 bệnh viện tư nhân và hơn 2.000 phòng khám, đây là thị trường tiềm năng rất tốt để cho thuê thiết bị y tế.

Cũng trong khuôn khổ Hội nghị, Hiệp hội tổ chức phát hành cuốn sách "Cho thuê tài chính trong công cuộc phát triển - Hướng dẫn cho các nền kinh tế mới nổi" và Toạ đàm "Áp dụng tiêu chí môi trường cho các dự án phân loại xanh"./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 16,550
Kim TT/AVPL 16,250 16,550
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 165,500
Hà Nội - PNJ 162,500 165,500
Đà Nẵng - PNJ 162,500 165,500
Miền Tây - PNJ 162,500 165,500
Tây Nguyên - PNJ 162,500 165,500
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 165,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 16,550
Miếng SJC Nghệ An 16,250 16,550
Miếng SJC Thái Bình 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,100
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 16,552
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 16,553
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 1,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 1,654
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 1,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 162,178
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 123,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 111,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 100,078
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 95,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 68,461
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 1,655
Cập nhật: 13/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80