Thị trường tiền tệ tuần 27/2 - 3/3:

Lãi suất vẫn thu hút mối quan tâm, tỷ giá giảm nhẹ

Chí Tín
(TBTCO) - Sau một giai đoạn ngắn lãi suất có xu hướng hạ nhiệt khi nhiều ngân hàng công bố các chương trình hạ lãi suất, nhưng chuyện lãi suất lại trở thành chủ đề “ấm” lên do ảnh hưởng bởi các diễn biến kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá lại cho thấy những tín hiệu khá lạc quan nhờ tác động của cán cân thương mại tiếp tục thặng dư lớn.
aa

Lãi suất thu hút mối quan tâm từ quốc tế

Trong nửa cuối tháng 2/2023, các tín hiệu hạ lãi suất của một số ngân hàng diễn ra tiếp nối nhau đặt ra kỳ vọng về một xu hướng mới hình thành. Tuy nhiên, ở chiều hướng ngược lại, thông tin kém tích cực từ các yếu tố kinh tế quốc tế lại gợi lên một số mối lo lắng về các khả năng ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ trong nước.

Lãi suất vẫn thu hút mối quan tâm, tỷ giá giảm nhẹ
Thị trường tiền tệ quốc tế có thể có những tác động đến thị trường trong nước. Ảnh: T.L
Lãi suất liên ngân hàng có tín hiệu tăng nhẹ trở lại Lãi suất cho vay điều chỉnh nhẹ nhưng vẫn ở mức cao so với nhu cầu thực tế

Các thông tin xuất hiện tuần qua chủ yếu liên quan đến tình hình lạm phát ở Mỹ và châu Âu đều có xu hướng tăng trở lại vào đầu năm 2023 sau một thời gian đã có phần dịu đi vào cuối năm 2022.

Cuối tháng 2 vừa qua, Bộ Thương mại Mỹ công bố giá cả của chi phí tiêu dùng cá nhân (PCE) trong tháng 1 tăng 0,6% so với tháng trước và 5,4% so với cùng kỳ năm trước, tăng cao hơn mức tăng của tháng 12/2022 với mức tăng lần lượt là 0,2% và 5,3%.

Với diễn biến này, một số dự báo mới xuất hiện gần đây cho rằng, khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có thể sẽ lại phải thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn, thay vì nới lỏng dần dần từ quý II/2023 như nhiều dự báo đã được đưa ra vào cuối năm 2022. Với thị trường tiền tệ trong nước, bối cảnh này đặt ra những lo ngại về nỗ lực giảm lãi suất của ngành ngân hàng để hỗ nền kinh tế sẽ gặp những trở ngại trong thời gian tới.

Nhiều tỉnh, thành "vào cuộc" kết nối ngân hàng - doanh nghiệp

Tuần qua, nhiều tỉnh thành trong nước như: Quảng Bình, Quảng Nam, Lào Cai, Đắc Lắc, Hưng Yên, Hòa Bình, Bến Tre, Hà Giang… đã triển khai các hội nghị đối thoại kết nối ngân hàng - doanh nghiệp. Đây là động thái của các địa phương nhằm thực hiện các yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc thúc đẩy tín dụng hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp tại các địa phương.

Trước đó, NHNN đã có văn bản yêu cầu các địa phương thực hiện các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, trên cơ sở đó các chi nhánh NHNN địa phương và các tổ chức tín dụng cần hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Lãi suất vẫn thu hút mối quan tâm, tỷ giá giảm nhẹ
Nếu lãi suất đồng USD tăng trong thời gian tới thì đó sẽ là thông tin tiêu cực đối với giá vàng. Ảnh: T.L

Tỷ giá hạ nhiệt

Trong khi lãi suất xuất hiện các thông tin thiếu tích cực từ các yếu tố bên ngoài, thì diễn biến tỷ giá lại xoa dịu phần nào tâm lý của giới tài chính và kinh doanh.

Tỷ giá trong tuần qua diễn ra theo xu hướng đi xuống với mức giảm nhẹ. Đầu tuần, NHNN công bố tỷ giá trung tâm ở mức 23.642 đồng/USD, bằng với cuối tuần trước. Sau đó, tỷ giá trung tâm tăng một phiên và giảm trong các phiên còn lại, ghi nhận mức 23.637 đồng/USD vào cuối tuần. Tính chung cả tuần, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng mỗi Đô la.

Lãi suất liên ngân hàng giảm nhẹ ở một số kỳ hạn

Trong tuần này, lãi suất liên ngân hàng giảm nhẹ ở một số kỳ hạn so với cuối tuần trước. Theo đó, lãi suất cho vay qua đêm ghi nhận ở mức 5,97% (tuần trước là 6,06%); lãi suất 2 tuần và 1 tháng lần lượt là 5,91% và 7,18% (tuần trước lần lượt là 7,12% và 8,5%). Tuy nhiên, kỳ hạn 1 tuần lại tăng nhẹ từ mức 6,08% cuối tuần trước lên mức 6,28% vào tuần này.

Trong khi đó, tỷ giá USD do Vietcombank công bố hôm đầu tuần là 23.620/23.650/23.990 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra). Tuy nhiên, tỷ giá có xu hướng giảm dần trong từng phiên và dừng ở mức 23.510/23.540/23.880 đồng/USD và sáng hôm thứ sáu ngày 3/3.

Tỷ giá giảm trong tuần qua một phần do tâm lý lạc quan khi Tổng cục Thống kê công bố các số liệu xuất nhập khẩu tháng 2 tiếp tục có mức xuất siêu lớn hơn tháng 1. Riêng trong tháng 2/2022, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 2,3 tỷ USD; theo đó tính chung hai tháng đầu năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 2,82 tỷ USD (cùng kỳ năm trước nhập siêu 0,3 tỷ USD).

Diễn biến tỷ giá vẫn trong trạng thái ổn định, thậm chí có xu hướng giảm nhờ nguồn cung ngoại tệ dồi dào phần nào giảm bớt áp lực đối với lãi suất trong nước. Đây cũng là yếu tố có phần cân bằng lại trước những áp lực bất lợi từ thị trường tiền tệ quốc tế.

Vàng có thể gặp bất lợi về trung hạn

Tuần qua, giá vàng diễn biến theo xu hướng nhích tăng nhẹ, nhưng tâm lý chung thị trường cho thấy nhiều yếu tố bất lợi về trung hạn do những ảnh hưởng tiêu cực từ thị trường tiền tệ quốc tế có thể sẽ xuất hiện trong thời gian tới. Hiện tại, những thông tin về việc FED có thể kéo dài các đợt tăng lãi suất vẫn chỉ là dự đoán, nhưng điều đó xảy ra thực sự thì đó sẽ là yếu tố bất lợi đối với giá vàng về mặt trung hạn.

Về diễn biến cụ thể về giá vàng trong nước, mở cửa thị trường ngày 27/2, giá vàng miếng 9999 SJC tại Hà Nội ghi nhận mức 66 triệu đồng/lượng mua vào và 66,72 triệu đồng/lượng bán ra. Sau đó, giá vàng đã có 2 phiên tăng, một phiên giảm và tăng nhẹ trở lại vào cuối tuần, ghi nhận mức giá vào sáng hôm 3/3 là 66,2 triệu đồng/lượng mua vào và 66,92 triệu đồng/lượng bán ra.

Chuẩn bị cho việc sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng

Tuần qua, NHNN đã lấy ý kiến góp ý Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Theo NHNN, các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng đã chứng minh được sự phù hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu quản lý và định hướng cho hoạt động, phát triển các tổ chức tín dụng trong một thời kỳ khá dài.

Tuy nhiên, qua 12 năm thực hiện, cùng với việc phát triển, thay đổi mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hoạt động của các tổ chức tín dụng đã có nhiều phát triển nên Luật Các tổ chức tín dụng đã bộc lộ một số hạn chế, cần nghiên cứu bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của tổ chức tín dụng và thực tiễn quản lý của cơ quan nhà nước.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY mất mốc 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 3/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.203 đồng. Cùng xu hướng, trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,05% còn 100,8 điểm, mất mốc 101 khi dữ liệu việc làm tại Mỹ kém tích cực, qua đó, làm giảm áp lực để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
Tỷ giá USD hôm nay (30/6): USD giữ vững đà tăng, tỷ giá USD/JPY vọt lên mức cao nhất 40 năm

Tỷ giá USD hôm nay (30/6): USD giữ vững đà tăng, tỷ giá USD/JPY vọt lên mức cao nhất 40 năm

(TBTCO) - Sáng 30/6, tỷ giá trung tâm tăng lên 25.206 đồng, trong khi chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 101,1 điểm. Dù áp lực địa chính trị tại Trung Đông hạ nhiệt, lập trường cứng rắn của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn được đánh giá là yếu tố nâng đỡ đồng USD. Đáng chú ý, tỷ giá USD/JPY đã vượt mốc 162, lên mức cao nhất trong 4 thập kỷ.
Tỷ giá USD hôm nay (29/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.201 đồng, USD giữ sức mạnh nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.201 đồng, USD giữ sức mạnh nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm sáng 29/6 được điều chỉnh tăng 4 đồng, lên 25.201 đồng, trong khi tỷ giá USD trên thị trường tự do tăng mạnh 130 - 150 đồng ở cả chiều bán và chiều mua so với phiên trước. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đứng ở 101,36 điểm. Thị trường hiện đánh giá 81,7% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất ít nhất một lần trong năm nay.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80