Lo khoảng trống pháp lý khiến 10 triệu tài khoản Mobile Money có nguy cơ dừng hoạt động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định quy định về dịch vụ Mobile Money trong quý IV/2025. Tuy nhiên, thời hạn thực hiện thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ hết hiệu lực kể từ ngày 31/12/2024, do đó, có cơ quan lo ngại khoảng trống pháp lý và làm phát sinh các vướng mắc, bất cập mới.
aa

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị định quy định về dịch vụ Mobile Money. Tính đến ngày 17/12, cơ quan này nhận được ý kiến của phần lớn các bộ, cơ quan liên quan, song chưa nhận được ý kiến của một số đơn vị của Bộ Ngoại giao và Bộ Công an.

Ban hành nghị định, đưa Mobile Money thành hình thức thanh toán hợp pháp

Mobile Money được hiểu đơn giản là ví điện tử viễn thông, hay nói cách khác là ví điện tử mà không có tài khoản ngân hàng, định danh bằng số điện thoại thuộc SIM chính chủ của các nhà mạng. Mỗi tài khoản Mobile Money gắn liền với một thuê bao di động đang sử dụng, giúp cho người dùng có thể dễ dàng thanh toán online mà không cần liên kết với tài khoản ngân hàng.

Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 9/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile - Money). Sau hơn 3 năm triển khai, Mobile - Money đem lại nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Tuy nhiên, dịch vụ Mobile Money đang được các đơn vị tổ chức triển khai theo hình thức thí điểm với căn cứ là Quyết định số 316/QĐ-TTg, do đó NHNN cho rằng, để đưa dịch vụ này chính thức trở thành một hình thức thanh toán hợp pháp, cần hoàn thiện hành lang pháp lý cho dịch vụ này bằng một nghị định, làm cơ sở cho các đơn vị triển khai thực hiện.

Chuyên gia ngân hàng UOB dự báo giá vàng 2025 lập đỉnh mới, lên 3.000 USD/ounce

Lo khoảng trống pháp lý khiến 10 triệu tài khoản Mobile Money có nguy cơ dừng hoạt động.

Cùng với đó, sau nhiều năm thí điểm, dịch vụ Mobile Money cơ bản thực hiện được mục tiêu hướng tới khách hàng ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam, những nơi mà mạng lưới của ngân hàng khó có thể bao phủ, người dân chưa thể mở tài khoản ngân hàng để có thể sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.

Bộ Công an cũng báo cáo chưa ghi nhận hành vi vi phạm pháp luật từ việc lợi dụng hoạt động thí điểm dịch vụ Mobile Money trong thời gian này.

70% người dùng ở nông thôn và miền núi, Viettel thống trị thị phần

Căn cứ báo cáo của ba doanh nghiệp thực hiện thí điểm về phát triển khách hàng tính đến cuối tháng 10/2024, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile Money là hơn 10 triệu tài khoản. Trong đó, Viettel chiếm 73%, VNPT-Media chiếm 21%, MobiFone chiếm 6%. Số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo là hơn 7,1 triệu tài khoản, chiếm khoảng 71% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ.

Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile Money của khách hàng từ khi triển khai thí điểm lũy kế đến cuối tháng 10/2024, bao gồm giao dịch nạp/rút/chuyển tiền/thanh toán là gần 170 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch gần 5.957 tỷ đồng.

Do đó, ngày 18/11/2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 192/NQ-CP và cho phép gia hạn thời gian thực hiện thí điểm Mobile Money đến hết ngày 31/12/2024.

NHNN cho rằng, việc duy trì dịch vụ Mobile Money sẽ đảm bảo cho quá trình thanh toán được thông suốt, đáp ứng nhu cầu của hơn 10 triệu tài khoản Mobile Money của khách hàng đang sử dụng dịch vụ, đặc biệt là hơn 7,1 triệu tài khoản Mobile Money ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.

Đồng thời, duy trì một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, gia tăng trải nghiệm cho khách hàng tại các đơn vị chấp nhận thanh toán. NHNN đề xuất trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định trong quý IV/2025.

Xem xét tháo gỡ khó khăn, nâng hạn mức giao dịch

Góp ý về hồ sơ nghị định, Bộ Tư pháp cho biết, Nghị quyết số 192/NQ-CP ngày 18/11/2023 của Chính phủ gia hạn thời hạn thực hiện thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ hết hiệu lực kể từ ngày 31/12/2024. Tuy nhiên, cơ quan chủ trì lập đề nghị đề xuất trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định trong quý IV/2025.

Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì lập đề nghị bổ sung thông tin về việc xử lý các vướng mắc, bất cập nếu có liên quan đến việc sử dụng dịch vụ trên của người dân (9,8 triệu tài khoản) trong trường hợp hết thời hạn thí điểm theo Nghị quyết số 192/NQ-CP.

"Cơ quan chủ trì lập đề nghị cần khẩn trương xây dựng Nghị định để trình Chính phủ ban hành theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm không tạo khoảng trống pháp lý, không làm phát sinh các vướng mắc, bất cập mới trong thực tiễn" - Bộ Tư pháp lưu ý.

Phản hồi vấn đề này, NHNN cho biết NHNN đã có Tờ trình Chính phủ về việc đề xuất gia hạn thời gian thực hiện thí điểm dịch vụ Mobile Money (Tờ trình số 155/TTr-NHNN ngày 8/11/2024 và Tờ trình số 176/TTr-NHNN ngày 11/12/2024). Tuy nhiên, đến nay, NHNN vẫn chưa nhận được chỉ đạo để triển khai việc gia hạn thời gian thực hiện thí điểm đối với dịch vụ Mobile Money.

Chuyên gia ngân hàng UOB dự báo giá vàng 2025 lập đỉnh mới, lên 3.000 USD/ounce
Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile Money của khách hàng là gần 170 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch gần 5.957 tỷ đồng.

Trong công văn góp ý, Bộ Tài chính đề nghị NHNN chủ động rà soát, nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động, tổng hợp các vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn quản lý hoạt động dịch vụ dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ, chịu trách nhiệm báo cáo với cấp có thẩm quyền trong việc xây dựng Nghị định, đảm bảo phù hợp với quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, pháp luật ngân hàng và pháp luật khác có liên quan.

Đồng thời, đề nghị NHNN cân nhắc sửa Điều 28 dự thảo Nghị định như sau: “Điều 28. Trách nhiệm phối hợp trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện dịch vụ Mobile Money”, trong đó cần quy định cụ thể trách nhiệm chủ trì của NHNN, các bộ, ngành và trách nhiệm phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan do dịch vụ Mobile Money thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý nhà nước của nhiều bộ, ngành.

Bộ Công an cũng ủng hộ việc xây dựng và ban hành Nghị định nhằm tạo điều kiện cho dịch vụ Mobile Money tiếp cận người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Đồng thời, Bộ Công an khẳng định trong quá trình triển khai thí điểm, chưa phát hiện các hành vi lợi dụng dịch vụ Mobile Money vào mục đích bất hợp pháp.

Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Mobile Money cũng đề xuất NHNN xem xét nâng hạn mức giao dịch lên mức tương đương với ví điện tử (100 triệu đồng/tháng), hay thẻ trả trước định danh theo quy định hiện hành hoặc trên 10 triệu đồng/tháng.

Nhiều đơn vị đề nghị NHNN áp dụng việc đối chiếu sinh trắc học trong quá trình mở tài khoản Mobile Money trực tuyến, bỏ điều kiện số thuê bao di động phải có thời gian kích hoạt và sử dụng liên tục trong ít nhất 3 tháng liền kề tính đến thời điểm đăng ký mở và sử dụng dịch vụ. NHNN xem xét cho doanh nghiệp mở rộng một số nghiệp vụ sau khi dịch vụ Mobile Money được xác thực chính xác qua nhiều bước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80