Lo khoảng trống pháp lý khiến 10 triệu tài khoản Mobile Money có nguy cơ dừng hoạt động

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định quy định về dịch vụ Mobile Money trong quý IV/2025. Tuy nhiên, thời hạn thực hiện thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ hết hiệu lực kể từ ngày 31/12/2024, do đó, có cơ quan lo ngại khoảng trống pháp lý và làm phát sinh các vướng mắc, bất cập mới.
aa

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị định quy định về dịch vụ Mobile Money. Tính đến ngày 17/12, cơ quan này nhận được ý kiến của phần lớn các bộ, cơ quan liên quan, song chưa nhận được ý kiến của một số đơn vị của Bộ Ngoại giao và Bộ Công an.

Ban hành nghị định, đưa Mobile Money thành hình thức thanh toán hợp pháp

Mobile Money được hiểu đơn giản là ví điện tử viễn thông, hay nói cách khác là ví điện tử mà không có tài khoản ngân hàng, định danh bằng số điện thoại thuộc SIM chính chủ của các nhà mạng. Mỗi tài khoản Mobile Money gắn liền với một thuê bao di động đang sử dụng, giúp cho người dùng có thể dễ dàng thanh toán online mà không cần liên kết với tài khoản ngân hàng.

Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 9/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile - Money). Sau hơn 3 năm triển khai, Mobile - Money đem lại nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Tuy nhiên, dịch vụ Mobile Money đang được các đơn vị tổ chức triển khai theo hình thức thí điểm với căn cứ là Quyết định số 316/QĐ-TTg, do đó NHNN cho rằng, để đưa dịch vụ này chính thức trở thành một hình thức thanh toán hợp pháp, cần hoàn thiện hành lang pháp lý cho dịch vụ này bằng một nghị định, làm cơ sở cho các đơn vị triển khai thực hiện.

Chuyên gia ngân hàng UOB dự báo giá vàng 2025 lập đỉnh mới, lên 3.000 USD/ounce

Lo khoảng trống pháp lý khiến 10 triệu tài khoản Mobile Money có nguy cơ dừng hoạt động.

Cùng với đó, sau nhiều năm thí điểm, dịch vụ Mobile Money cơ bản thực hiện được mục tiêu hướng tới khách hàng ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam, những nơi mà mạng lưới của ngân hàng khó có thể bao phủ, người dân chưa thể mở tài khoản ngân hàng để có thể sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.

Bộ Công an cũng báo cáo chưa ghi nhận hành vi vi phạm pháp luật từ việc lợi dụng hoạt động thí điểm dịch vụ Mobile Money trong thời gian này.

70% người dùng ở nông thôn và miền núi, Viettel thống trị thị phần

Căn cứ báo cáo của ba doanh nghiệp thực hiện thí điểm về phát triển khách hàng tính đến cuối tháng 10/2024, tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile Money là hơn 10 triệu tài khoản. Trong đó, Viettel chiếm 73%, VNPT-Media chiếm 21%, MobiFone chiếm 6%. Số lượng tài khoản của khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo là hơn 7,1 triệu tài khoản, chiếm khoảng 71% tổng số tài khoản đăng ký và sử dụng dịch vụ.

Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile Money của khách hàng từ khi triển khai thí điểm lũy kế đến cuối tháng 10/2024, bao gồm giao dịch nạp/rút/chuyển tiền/thanh toán là gần 170 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch gần 5.957 tỷ đồng.

Do đó, ngày 18/11/2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 192/NQ-CP và cho phép gia hạn thời gian thực hiện thí điểm Mobile Money đến hết ngày 31/12/2024.

NHNN cho rằng, việc duy trì dịch vụ Mobile Money sẽ đảm bảo cho quá trình thanh toán được thông suốt, đáp ứng nhu cầu của hơn 10 triệu tài khoản Mobile Money của khách hàng đang sử dụng dịch vụ, đặc biệt là hơn 7,1 triệu tài khoản Mobile Money ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam.

Đồng thời, duy trì một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, gia tăng trải nghiệm cho khách hàng tại các đơn vị chấp nhận thanh toán. NHNN đề xuất trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định trong quý IV/2025.

Xem xét tháo gỡ khó khăn, nâng hạn mức giao dịch

Góp ý về hồ sơ nghị định, Bộ Tư pháp cho biết, Nghị quyết số 192/NQ-CP ngày 18/11/2023 của Chính phủ gia hạn thời hạn thực hiện thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ hết hiệu lực kể từ ngày 31/12/2024. Tuy nhiên, cơ quan chủ trì lập đề nghị đề xuất trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định trong quý IV/2025.

Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì lập đề nghị bổ sung thông tin về việc xử lý các vướng mắc, bất cập nếu có liên quan đến việc sử dụng dịch vụ trên của người dân (9,8 triệu tài khoản) trong trường hợp hết thời hạn thí điểm theo Nghị quyết số 192/NQ-CP.

"Cơ quan chủ trì lập đề nghị cần khẩn trương xây dựng Nghị định để trình Chính phủ ban hành theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm không tạo khoảng trống pháp lý, không làm phát sinh các vướng mắc, bất cập mới trong thực tiễn" - Bộ Tư pháp lưu ý.

Phản hồi vấn đề này, NHNN cho biết NHNN đã có Tờ trình Chính phủ về việc đề xuất gia hạn thời gian thực hiện thí điểm dịch vụ Mobile Money (Tờ trình số 155/TTr-NHNN ngày 8/11/2024 và Tờ trình số 176/TTr-NHNN ngày 11/12/2024). Tuy nhiên, đến nay, NHNN vẫn chưa nhận được chỉ đạo để triển khai việc gia hạn thời gian thực hiện thí điểm đối với dịch vụ Mobile Money.

Chuyên gia ngân hàng UOB dự báo giá vàng 2025 lập đỉnh mới, lên 3.000 USD/ounce
Tổng số lượng giao dịch qua tài khoản Mobile Money của khách hàng là gần 170 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch gần 5.957 tỷ đồng.

Trong công văn góp ý, Bộ Tài chính đề nghị NHNN chủ động rà soát, nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động, tổng hợp các vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn quản lý hoạt động dịch vụ dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ, chịu trách nhiệm báo cáo với cấp có thẩm quyền trong việc xây dựng Nghị định, đảm bảo phù hợp với quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, pháp luật ngân hàng và pháp luật khác có liên quan.

Đồng thời, đề nghị NHNN cân nhắc sửa Điều 28 dự thảo Nghị định như sau: “Điều 28. Trách nhiệm phối hợp trong công tác quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện dịch vụ Mobile Money”, trong đó cần quy định cụ thể trách nhiệm chủ trì của NHNN, các bộ, ngành và trách nhiệm phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan do dịch vụ Mobile Money thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý nhà nước của nhiều bộ, ngành.

Bộ Công an cũng ủng hộ việc xây dựng và ban hành Nghị định nhằm tạo điều kiện cho dịch vụ Mobile Money tiếp cận người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Đồng thời, Bộ Công an khẳng định trong quá trình triển khai thí điểm, chưa phát hiện các hành vi lợi dụng dịch vụ Mobile Money vào mục đích bất hợp pháp.

Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Mobile Money cũng đề xuất NHNN xem xét nâng hạn mức giao dịch lên mức tương đương với ví điện tử (100 triệu đồng/tháng), hay thẻ trả trước định danh theo quy định hiện hành hoặc trên 10 triệu đồng/tháng.

Nhiều đơn vị đề nghị NHNN áp dụng việc đối chiếu sinh trắc học trong quá trình mở tài khoản Mobile Money trực tuyến, bỏ điều kiện số thuê bao di động phải có thời gian kích hoạt và sử dụng liên tục trong ít nhất 3 tháng liền kề tính đến thời điểm đăng ký mở và sử dụng dịch vụ. NHNN xem xét cho doanh nghiệp mở rộng một số nghiệp vụ sau khi dịch vụ Mobile Money được xác thực chính xác qua nhiều bước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

(TBTCO) - InsuranceAsia News đã công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 vào ngày 20/7/2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ khi giành 5 trong tổng số 10 hạng mục giải thưởng, tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam.
Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 22/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên ở mức 25.260 đồng, song tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục nhích tăng. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,2% lên 101,19 điểm khi nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh gia tăng trước căng thẳng địa chính trị.
Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

(TBTCO) - Hơn 640 triệu cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVB) chính thức được đưa vào giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 21/7, với giá tham chiếu 13.100 đồng/cổ phiếu.
Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,600
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 142 ▼1292K 14,602 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 142 ▼1292K 14,603 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 141 ▼1278K 145 ▼1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 141 ▼1278K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 138 ▼1251K 143 ▼1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▲121086K 141,584 ▲127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼300K 107,411 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼86996K 974 ▼96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼244K 87,389 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼234K 83,527 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼167K 59,787 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cập nhật: 22/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17861 18135 18714
CAD 18125 18400 19022
CHF 31719 32100 32748
CNY 0 3844 3937
EUR 29367 29588 30671
GBP 34366 34758 35696
HKD 0 3225 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14986 15576
SGD 19835 20116 20686
THB 693 757 810
USD (1,2) 26046 0 0
USD (5,10,20) 26087 0 0
USD (50,100) 26116 26130 26495
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,533 29,557 30,966
JPY 157.02 157.3 166.79
GBP 34,603 34,697 35,891
AUD 18,087 18,152 18,837
CAD 18,339 18,398 19,074
CHF 32,020 32,120 33,060
SGD 19,980 20,042 20,823
CNY - 3,813 3,958
HKD 3,291 3,301 3,438
KRW 16.41 17.11 18.61
THB 743.43 752.61 805.68
NZD 14,993 15,132 15,581
SEK - 2,665 2,759
DKK - 3,951 4,089
NOK - 2,689 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.74 - 6,792.73
TWD 734.82 - 889.54
SAR - 6,895.4 7,262.43
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26490
AUD 18043 18143 19074
CAD 18312 18412 19426
CHF 31974 32004 33582
CNY 3824.5 3849.5 3984.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29559 29589 31312
GBP 34669 34719 36476
HKD 0 3355 0
JPY 157.86 158.36 168.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15097 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19989 20119 20851
THB 0 722.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14200000 14200000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,163 26,213 26,523
USD20 26,163 26,213 26,523
USD1 26,163 26,213 26,523
AUD 18,123 18,223 19,327
EUR 29,399 29,499 31,155
CAD 18,272 18,372 19,679
SGD 20,097 20,247 20,806
JPY 158.44 159.94 165.47
GBP 34,631 34,781 35,845
XAU 14,338,000 0 14,702,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80