Mong mỏi danh mục phân loại xanh để thông dòng vốn xanh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Các thành viên trên thị trường đều mong mỏi sớm ban hành danh mục phân loại xanh, với bộ tiêu chí rõ ràng, để các nhà đầu tư, ngân hàng dễ dàng đánh giá độ an toàn và tính minh bạch các khoản đầu tư vào tín dụng xanh và trái phiếu xanh. Việc đong đếm rõ tính xanh giúp mở cơ hội tiếp cận vốn, giúp các dự án, doanh nghiệp xanh bền bỉ hơn trên hành trình hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững.
aa
Mong mỏi danh mục phân loại xanh để thông dòng vốn xanh
Việc thiếu tiêu chí cụ thể làm giảm cơ hội tiếp cận vốn của các dự án thực sự thân thiện với môi trường. Ảnh tư liệu

Sở dĩ quá trình chuyển đổi sang tín dụng xanh và trái phiếu xanh thời gian qua gặp nhiều thách thức, theo ông Lê Hoài Ân, CFA Founder IFSS, chuyên gia đào tạo và tư vấn hoạt động ngân hàng, Công ty cổ phần Giải pháp tài chính tích hợp, hiện vẫn thiếu một bộ tiêu chí rõ ràng để đánh giá các yếu tố xanh trong các dự án.

Việc thiếu bộ tiêu chí phân loại xanh gây khó khăn lớn cho các ngân hàng và tổ chức tài chính trong việc phân loại dự án nào tuân thủ tiêu chí về xanh hóa và đạt tiêu chuẩn tài trợ. Việc không có tiêu chuẩn rõ ràng cũng dẫn đến nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc đánh giá độ an toàn và tính minh bạch của các khoản đầu tư vào tín dụng xanh và trái phiếu xanh.

Khoảng trống khiến ngân hàng khó cho vay

Cũng theo ông Lê Hoài Ân, việc thiếu tiêu chí cụ thể còn làm giảm cơ hội tiếp cận vốn của các dự án thực sự thân thiện với môi trường, bởi vì nhà đầu tư và ngân hàng không thể phân biệt rõ đâu là dự án đạt chuẩn xanh. Thời gian qua, nhiều dự án tiềm năng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo hoặc xử lý chất thải chưa thể nhận tài trợ thích đáng, vì không có bộ tiêu chí làm cơ sở phân loại.

“Đối với phân khúc tài trợ từ các quỹ đầu tư xanh quốc tế, với yêu cầu tuân thủ các tiêu chuẩn xanh nghiêm ngặt hơn, không nhiều doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng đủ điều kiện”, ông Ân nêu rõ vướng mắc.

Thống kê cho thấy, quy mô thị trường trái phiếu xanh nội địa hiện mới đạt khoảng 1 tỷ USD. Trong khi đó, mặc dù có nhiều nỗ lực song đến nay, dư nợ tín dụng xanh của hệ thống ngân hàng vẫn khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 665.000 tỷ đồng đến cuối quý III/2024, chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Các khoản tín dụng xanh tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các dự án năng lượng tái tạo và các tiêu chí đánh giá vẫn phụ thuộc vào tiêu chuẩn riêng của từng ngân hàng thay vì dựa trên các thông lệ quốc tế.

Hoạt động trong lĩnh vực công nghệ vi sinh trong suốt 11 năm qua, bà Bùi Bích Liên, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại và Công nghệ Emcom, doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm chăm sóc nhà cửa, sức khỏe và sắc đẹp theo công nghệ vi sinh Nhật Bản, từng trải lòng việc khó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và các chính sách vì doanh nghiệp không đáp ứng được nhiều tiêu chí của ngân hàng dù đóng góp nhiều giá trị cho cộng đồng, xã hội.

Theo lãnh đạo Emcom, ngoài việc đặt ra tiêu chí doanh nghiệp phải đáp ứng được những yêu cầu cụ thể về kế hoạch kinh doanh, khả năng tài chính, các tổ chức tín dụng cần nhìn nhận thêm doanh nghiệp đóng góp được gì cho xã hội và có tiêu chí đo lường được những giá trị mang lại.

“Chúng tôi sẵn sàng cùng các cơ quan, ban, ngành xây dựng những tiêu chí đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư tại ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mang lại những giá trị thiết thực và giải quyết những vấn đề trong cuộc sống”, bà Liên nói.

Chấm điểm, lượng hóa cụ thể các tiêu chí

Để triển khai hiệu quả chiến lược ngân hàng xanh, chia sẻ gần đây, TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo ESG Agribank cho rằng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan, ban, ngành cần sớm xây dựng và đề xuất Chính phủ ban hành bộ tiêu chí môi trường và các tiêu chí xác định đối với các dự án được cấp tín dụng xanh. Trên cơ sở đó, để các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý và kỹ thuật trong việc xác định các dự án, hạng mục dự án đáp ứng điều kiện tín dụng xanh.

Đồng thời, hỗ trợ các ngân hàng thương mại tiếp cận được nhiều hơn các quỹ tài chính, nguồn vốn xanh về hỗ trợ kỹ thuật hoặc cho vay ưu đãi của các tổ chức trên thế giới; có chính sách ưu đãi về thuế, phí, cơ chế bảo hiểm, lãi suất, dự trữ bắt buộc đối với doanh nghiệp, ngân hàng thương mại chủ động triển khai hiệu quả và được tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đánh giá cao.

Nhấn mạnh lợi ích từ việc ban hành bộ tiêu chí xanh, theo ông Lê Hoài Ân, điều này sẽ đẩy mạnh tài trợ cho các dự án có tác động tích cực đến môi trường, mở ra cơ hội tiếp cận các nguồn vốn lớn từ cả trong và ngoài nước, đặc biệt là từ các tổ chức tài chính quốc tế đang chú trọng đến phát triển bền vững.

Theo gợi ý từ vị chuyên gia này, bộ tiêu chuẩn này cần bao gồm các tiêu chí cụ thể như khả năng giảm phát thải khí CO2, tính hiệu quả trong việc quản lý tài nguyên, tác động tích cực đến cộng đồng và việc thực thi các chuẩn mực quản trị minh bạch. Chẳng hạn, một dự án có thể được coi là đạt tiêu chuẩn môi trường nếu giảm ít nhất 30% phát thải khí nhà kính so với tiêu chuẩn ngành, tích cực cải thiện phúc lợi xã hội và duy trì quy trình quản trị rõ ràng, minh bạch.

Các tiêu chí sẽ được xếp hạng theo thang điểm từ 1-5 dựa trên các mức độ đạt được của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp cũng biết những điều cần cải thiện để có thể đạt mức điểm tuân thủ cao hơn; đồng thời, các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính có thể sử dụng các kết quả đánh giá này để xếp hạng lựa chọn doanh nghiệp và cơ hội đầu tư tiềm năng.

Mong mỏi danh mục phân loại xanh để thông dòng vốn xanh

Hạn chế tín dụng dự án tác động xấu đến môi trường

Xây dựng và hình thành hệ thống dữ liệu về tình hình tuân thủ, vi phạm yêu cầu về môi trường của doanh nghiệp, tạo cơ sở cho các ngân hàng thương mại trong việc thẩm định, xác định mức độ rủi ro môi trường khi đánh giá khách hàng vay, từ đó, không cấp hoặc hạn chế tín dụng mới đối với những dự án tác động xấu đến môi trường. TS. Nguyễn Thị Thu Hà - Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,442 ▼3K 1,477 ▲1329K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,442 ▼3K 1,478 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲1275K 1,457 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,257 ▼297K 144,257 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,636 ▼225K 109,436 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,436 ▲80472K 99,236 ▲89292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,236 ▼183K 89,036 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,302 ▼175K 85,102 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,113 ▼125K 60,913 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17838 18112 18687
CAD 18162 18438 19050
CHF 31930 32311 32945
CNY 0 3838 3930
EUR 29478 29699 30773
GBP 34732 35125 36058
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15056 15646
SGD 19836 20118 20690
THB 698 761 814
USD (1,2) 25987 0 0
USD (5,10,20) 26028 0 0
USD (50,100) 26057 26071 26430
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 18020 18120 19043
CAD 18339 18439 19453
CHF 32169 32199 33778
CNY 3818.6 3843.6 3979.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29655 29685 31410
GBP 35025 35075 36833
HKD 0 3355 0
JPY 158.47 158.97 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19996 20126 20848
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,089 26,139 26,450
USD20 26,089 26,139 26,450
USD1 26,089 26,139 26,450
AUD 18,055 18,155 19,273
EUR 29,445 29,545 31,209
CAD 18,284 18,384 19,692
SGD 20,072 20,222 20,776
JPY 158.95 160.45 165.99
GBP 34,913 35,063 36,119
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80