Năm 2014, tín dụng và tỷ giá không nhiều thay đổi?

Nguyễn An
Một số chuyên gia dự báo tăng trưởng tín dụng và tỷ giá USD/VND sẽ không có nhiều thay đổi trong năm 2014 so với 2013.
aa

Như đề cập ở bản tin trước, ngày 18/11, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hội thảo chuyên đề về kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ, những khuyến nghị cho năm 2014 - 2015.

Tỷ giá vẫn tiếp tục ổn định?

Cũng như tại một số hội thảo, tọa đàm về chính sách tiền tệ gần đây, sự ổn định của tỷ giá USD/VND trong hơn hai năm qua là điểm nhấn mà các chuyên gia đề cập tới.

“Quá bất ngờ” là góc nhìn của chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh khi đề cập đến vấn đề tỷ giá tại buổi hội thảo hôm qua (18/11). Bởi lẽ, trước thời điểm ngày 11/2/2011, tỷ giá USD/VND liên tục biến động, căng thẳng và có những điều chỉnh mạnh; sau đó cho đến nay là hơn hai năm “quá ổn định”, hay “một đường kẻ thẳng” - theo cách nói của chuyên gia này.

“Về tỷ giá, tôi đánh giá cao việc giữ ổn định của Ngân hàng Nhà nước. Cam kết hai năm liên tiếp đã được thực hiện, là một trong những yếu tố rất quan trọng để cả xã hội, trong nước và ngoài nước người ta tin vào sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước, ít nhất là trên lĩnh vực tỷ giá”, ông Ánh nói.

Nhưng, tới đây điều hành như thế nào?

Chuyên gia Vũ Đình Ánh dự tính, nếu Việt Nam không thay đổi cách thức xuất khẩu, nhập khẩu, vẫn dựa vào vốn đầu tư nước ngoài như hiện nay, thì chính sách tỷ giá hối đoái không cần phải thay đổi.

Tuy nhiên, ông khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước xem cân nhắc hai phương án điều hành giai đoạn trước và sau ngày 11/2/2011 (ngày gắn với sự kiện phá giá VND tới 9,3%). Giai đoạn trước theo ông Ánh thì có vẻ thị trường hơn, nhưng giai đoạn sau thì kẻ một đường thẳng băng. Ở đây, cần so sánh cái được và cái không được giữa hai cách thức điều hành đó để có chính sách tỷ giá hợp lý hơn.

hoithaotiente
Toàn cảnh Hội thảo “Những khuyến nghị chính sách kinh tế và điều hành CSTT năm 2014 - 2015”. Ảnh: SBV

Cùng dự báo trên, ông Sumit Dutta, Tổng giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam, tin tưởng tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục ổn định trong dài hạn, ít nhất là trong hai năm tới 2014 và 2015.

Cụ thể, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam đưa ra dự báo tỷ giá USD/VND vào cuối năm 2013, tức chỉ còn hơn một tháng nữa, ở mức khoảng 21.250 VND; đến cuối năm 2014 ở khoảng 21.500 VND và đây cũng là mức được kỳ vọng sẽ ổn định tương đối trong năm 2015.

Đi cùng với dự báo trên, ông Sumit Dutta lạc quan khi tính toán dự trữ ngoại hối của Việt Nam sẽ cải thiện nhanh và mạnh, từ mức khoảng 30 tỷ USD năm 2013 lên 35 tỷ USD năm 2014 và lên tới 40 tỷ USD vào năm 2015.

Ngoài các lợi thế về điều kiện chính trị, tự nhiên, dân số lao động…, chuyên gia của HSBC nhấn mạnh đến việc giữ tỷ giá ổn định là một nhân tố quan trọng củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài khi rót vốn vào Việt Nam. Bằng chứng là lượng vốn đầu tư nước ngoài liên tục gia tăng khá mạnh trong năm 2013.

Để làm nổi bật hơn lợi thế thu hút vốn ngoại đó, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam đưa ra so sánh: Việt Nam là quốc gia có đồng tiền ổn định thứ ba trong khu vực (tính đến tháng 8/2013), sau Trung Quốc và Hồng Kông. Tính đến thời điểm trên, VND mới chỉ mất giá 1,5% kể từ đầu năm, trong khi đồng tiền nhiều quốc gia khác mất giá mạnh và gây quan ngại đối với nhà đầu tư nước ngoài, như Nhật Bản (11,17%), Indonesia (12,68%), Australia (14,5%), Ấn Độ (15,47%)…

Trong khuôn khổ của hội thảo có chủ đề rất rộng trên, các ý kiến không tập trung phân tích cụ thể các yếu tố dự báo sẽ tác động đến tỷ giá USD/VND trong năm tới. Song, dự báo chung là sẽ tiếp tục ổn định.

Tôi nhớ trong ngân hàng vừa rồi có câu: “Vay thì đứng, đến khi đòi nợ thì quỳ”. Tôi sợ rằng tới đây nếu không kiểm soát tốt câu chuyện tăng trưởng tín dụng thì vay phải quỳ, cho vay cũng phải quỳ, kiếm được ông tốt không dễ lại phải quỳ, đến khi đòi nợ thì có lẽ nằm luôn.

vudinhanh

Chuyên gia Vũ Đình Ánh

“Ngân hàng đã cho vay hết cỡ”

Về tăng trưởng tín dụng, điểm chung đưa ra tại hội thảo trên là chỉ tiêu 12% năm nay khó hiện thực, khi thời gian còn lại của năm rất ngắn, mà thực tế thực hiện mới chưa đầy 8%.

Tuy nhiên, các chuyên gia cùng quan điểm rằng: con số tăng trưởng tín dụng là không quan trọng, chỉ tiêu 12% không nên xét đến ở áp lực hoàn thành bằng mọi giá, hay không nên xem đó là mức sàn để đánh giá thành tích của Ngân hàng Nhà nước.

Chuyên gia Vũ Đình Ánh nêu quan điểm: “Tuần rồi họp “G14” (14 ngân hàng lớn - PV) để tìm cách đẩy tín dụng lên. Tôi chia sẻ với các ngân hàng là hết cỡ rồi. Có đại biểu Quốc hội, có bác quan chức bảo ngân hàng phải tìm doanh nghiệp nào hoạt động tốt đi. Vâng, tôi cho rằng, hơn ai hết, ngân hàng có động lực để tìm chứ, vì đó là cách sống, nguồn sống của họ. Họ không cho vay thì họ làm gì? Khổ lắm, khách hàng tốt hiếm lắm!”.

Ông Vũ Đình Ánh nhìn nhận, với triển vọng tín dụng như hiện nay thì có thể đạt 10%. Đây cũng là mức mà một số chuyên gia cho là phù hợp trong năm 2014. Nhưng đó không phải mục tiêu, điểm quan trọng nhất không phải là con số.

Chuyên gia này quan ngại: “Nhiều người nói về chất lượng tín dụng. Chất lượng cũng có nhiều chuyện lắm. Rồi xử lý nợ xấu. Nhưng lo nhiều hơn là đừng để cho nợ xấu phát sinh. Nếu hạ chuẩn, hạ điều kiện, nới tín dụng thì ba hoặc sáu tháng sau nợ xấu sẽ phát sinh thêm”.

Nhớ lại đầu năm 2012, khi Ngân hàng Nhà nước bắt đầu áp cơ chế giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng thương mại muốn có chỉ tiêu xông xênh nên đã làm mẫu số tín dụng tham chiều cuối năm 2011 lớn lên. Ông Ánh cho đây là một phản ứng đơn giản. Thế nhưng năm 2013, rồi dự báo 2014 và cả đến 2015, tình hình đã khác.

“Tôi nhớ trong ngân hàng vừa rồi có câu: “Vay thì đứng, đến khi đòi nợ thì quỳ”. Tôi sợ rằng tới đây nếu không kiểm soát tốt câu chuyện tăng trưởng tín dụng thì vay phải quỳ, cho vay cũng phải quỳ, kiếm được ông tốt không dễ lại phải quỳ, đến khi đòi nợ thì có lẽ nằm luôn”, ông Vũ Đình Ánh ví von về tình thế nhiều doanh nghiệp khó khăn, sức khỏe kém đi nên khó đáp ứng điều kiện vay vốn, cũng như khó hấp thụ vốn - điều trái ngược với mong muốn đẩy cao tăng trưởng tín dụng hiện nay và cho năm tới.

Nguyễn An

Nguyễn An

Đọc thêm

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,010 17,310
Kim TT/AVPL 17,020 17,320
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 17,300
Nguyên Liệu 99.99 15,900 16,100
Nguyên Liệu 99.9 15,850 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,700 17,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,630 17,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,010 17,310
Miếng SJC Nghệ An 17,010 17,310
Miếng SJC Thái Bình 17,010 17,310
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,990 17,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,990 17,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,990 17,290
NL 99.90 15,570
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600
Trang sức 99.9 16,480 17,180
Trang sức 99.99 16,490 17,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,701 17,312
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,701 17,313
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 1,731
Cập nhật: 07/04/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18559
CAD 18384 18661 19278
CHF 32356 32739 33382
CNY 0 3470 3830
EUR 29784 30056 31084
GBP 34085 34475 35406
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14753 15340
SGD 19969 20252 20777
THB 726 789 842
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 29,921 29,945 31,183
JPY 161.04 161.33 170.01
GBP 34,279 34,372 35,342
AUD 17,911 17,976 18,542
CAD 18,594 18,654 19,224
CHF 32,590 32,691 33,448
SGD 20,106 20,169 20,839
CNY - 3,765 3,884
HKD 3,303 3,313 3,430
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.69 782.23 832.35
NZD 14,733 14,870 15,219
SEK - 2,746 2,826
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,658 2,735
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,120.28 - 6,866.72
TWD 744.75 - 896.66
SAR - 6,916.03 7,240.79
KWD - 83,758 88,569
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 29,746 29,865 31,038
GBP 34,127 34,264 35,261
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,283 32,413 33,322
JPY 161.08 161.73 168.99
AUD 17,806 17,878 18,462
SGD 20,102 20,183 20,758
THB 786 789 823
CAD 18,539 18,613 19,172
NZD 14,742 15,268
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26361
AUD 17890 17990 18918
CAD 18570 18670 19685
CHF 32607 32637 34219
CNY 3766.3 3791.3 3926.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29973 30003 31731
GBP 34390 34440 36193
HKD 0 3355 0
JPY 161.68 162.18 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20136 20266 20987
THB 0 755.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17010000 17010000 17310000
SBJ 16000000 16000000 17310000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,361
USD20 26,167 26,217 26,361
USD1 26,167 26,217 26,361
AUD 17,880 17,980 19,089
EUR 30,038 30,038 31,451
CAD 18,493 18,593 19,898
SGD 20,169 20,319 21,335
JPY 162 163.5 168.05
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,008,000 0 17,312,000
CNY 0 3,677 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/04/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80