Nắn dòng tín dụng: Các ngân hàng phải tự chắt chiu đồng vốn

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa có tín hiệu sẽ nới lỏng tỷ lệ hạn mức tín dụng (room), cho dù nhiều ngân hàng thương mại lo cạn room và luôn đề xuất việc nới room. Không những thế, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn cho rằng, room vẫn còn chứ chưa hết và đây chính là thời điểm để các ngân hàng “gạn đục khơi trong”, hướng dòng vốn vào những lĩnh vực an toàn, hiệu quả.
aa

Room vẫn còn chứ chưa hết

Sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế khiến cho nhu cầu vay vốn tăng cao và kết quả tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm 2022 cũng cho thấy đang bước vào chu kỳ tăng tốc khá ấn tượng. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến giữa năm 2022 đã đạt tới 8,16% so với đầu năm 2022 và tăng trưởng tín dụng so với cùng kỳ năm 2021 là 17,09% so với cùng kỳ năm 2021.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2022 theo đó đã nhanh hơn rất nhiều so với mức 5,1% trong 6 tháng đầu năm 2021 và nhanh gấp gần 3 lần so với tốc độ 2,3% trong nửa đầu năm 2020. Tốc độ tăng trưởng tín dụng nửa đầu 2022 cũng là mức cao nhất trong 6 tháng đầu năm kể từ năm 2017 trở lại đây.

Nắn dòng tín dụng: Các ngân hàng phải tự chắt chiu đồng vốn
Nắn dòng tín dụng: Các ngân hàng phải tự chắt chiu đồng vốn. Ảnh: T.L
Giảm tốc tín dụng, dòng vốn có thể “hẹp cửa” với bất động sản Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Không phải tất cả lĩnh vực bất động sản bị kiểm soát tín dụng

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nửa đầu năm 2022 phù hợp với diễn biến tích cực hơn của nền kinh tế. Điều này đã góp phần kích hoạt mạnh mẽ các hoạt động kinh tế, tạo đà phục hồi các chỉ số vĩ mô, từ đó giúp nền kinh tế dần khôi phục và tăng trưởng.

Tuy nhiên, ở góc độ các ngân hàng thương mại, nhiều ngân hàng lo lắng sẽ sớm cạn room tín dụng, bởi room Ngân hàng Nhà nước cấp cho các ngân hàng thương mại trong năm 2022 là 14%, bằng với tốc độ tăng trưởng tín dụng thực tế của năm 2021. Trong khi đó, qua nửa đầu năm, diễn biến tăng trưởng cho thấy nhu cầu vay vốn năm nay đã cao hơn năm trước rất nhiều.

Ngoài ra, các ngân hàng khi triển khai gói hỗ trợ lãi suất theo theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP của Chính phủ thì các ngân hàng sẽ lại càng phải cân nhắc nhiều hơn cho các nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Ông Trần Phương - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết, gói hỗ trợ lãi suất là chủ trương lớn nên dự kiến số lượng khách hàng đăng ký sẽ lớn. Do đó, để có đủ vốn đáp ứng nhu cầu vay của các khách hàng đủ điều kiện, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét nới room cho các tổ chức tín dụng lớn để các ngân hàng triển khai các chính sách được thông suốt, hiệu quả.

Tuy nhiên trao đổi mới đây về vấn đề room tín dụng, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, thực tế room tín dụng vẫn còn chứ chưa thể hết. Cụ thể, thực tế tốc độ tăng trưởng tín dụng đã đạt 8,16% tuy là khá nhanh, nhưng so với hạn mức mà Ngân hàng Nhà nước cấp chung cho toàn hệ thống trong năm nay (14%) thì với phần còn lại vẫn còn khoảng gần 6% cho các ngân hàng.

Thời điểm để điều hướng dòng vốn

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thừa nhận, thực tế với diễn biến hiện nay, dù room tín dụng vẫn còn, nhưng phần còn lại cho các ngân hàng không nhiều. Theo đó, các ngân hàng sẽ phải tự xoay sở để tập trung dòng vốn vào các lĩnh vực thực sự hiệu quả, hạn chế phát sinh nợ xấu mới. Theo định hướng của Ngân hàng Nhàn nước, ngành ngân hàng tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu vốn tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Nói về câu chuyện điều tiết room tín dụng, ông Phạm Chí Quang - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết, nhu cầu tăng trưởng tín dụng tăng cao cũng đặt ra nhiều vấn đề lớn trong điều hành như áp lực lạm phát tăng, cũng như “vòng xoáy” về lãi suất, về nợ xấu...

Theo đó, việc điều tiết tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước đã được thể hiện rất rõ trong Chỉ thị 01 của Ngân hàng Nhà nước ban hành từ đầu năm, trong đó, việc cấp room với từng ngân hàng sẽ phụ thuộc vào các tiêu chí cụ thể. Các ngân hàng có mức xếp hạng cao hơn về an toàn tài chính có thể sẽ được cấp room lớn hơn, ngoài ra room cũng có thể được ưu tiên tăng thêm cho các ngân hàng tham gia xử lý các ngân hàng yêu kém.

Ngược lại, Ngân hàng Nhà nước cũng luôn cảnh báo việc các ngân hàng thương mại rót vốn vào các lĩnh vực rủi ro cao, những lĩnh vực đầu cơ… “Trường hợp các ngân hàng cố tình tham gia các lĩnh vực rủi ro thì Ngân hàng Nhà nước sẽ giảm room của các ngân hàng này” - ông Quang cho biết.

Tuy nhiên, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, có thể room tín dụng không hoàn toàn “đóng cứng” cho đến hết năm, bởi ngay trong định hướng đưa ra thời điểm đầu năm thì chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đặt ra là 14%, nhưng cũng có thể điều chỉnh theo diễn biến thực tế.

Vấn đề hiện nay đối với Ngân hàng Nhà nước là sẽ phải điều hành trên cơ sở cân đối các mục tiêu khác nhau, trong đó, một trong những vấn đề đáng quan ngại hiện tại vẫn là nguy cơ lạm phát, bởi thực tế lạm phát đã diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, tình hình tài chính tiền tệ của các quốc gia đang có rất nhiều biến động, gây áp lực đến kinh tế Việt Nam.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng 6 tháng trong những năm gần đây

Năm

2015

2016

2017

2018

2019

2020

2021

2022

Tăng trưởng tín dụng

7,9%

8,2%

9%

7,8%

7,4%

2,3%

5,1%

8,16%

Chí Tín

Đọc thêm

Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

(TBTCO) - Trong quý đầu tiên của năm 2026, nhiều ngân hàng trung ương đã tăng lượng dự trữ vàng với tốc độ nhanh nhất so với cùng kỳ, do giá vàng giảm mạnh đã khuyến khích làn sóng mua vào, bù đắp hoàn toàn cho lượng bán ra của một số ít tổ chức.
Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/4: Giá vàng trong nước duy trì mặt bằng giá 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 30/4 không ghi nhận biến động mới, khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ giá, giao dịch trong vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 166,000
Hà Nội - PNJ 163,000 166,000
Đà Nẵng - PNJ 163,000 166,000
Miền Tây - PNJ 163,000 166,000
Tây Nguyên - PNJ 163,000 166,000
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 166,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 16,600
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,790 16,490
Trang sức 99.99 15,800 16,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 03/05/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/05/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80