Ngân hàng chủ động tăng vốn, tạo đà phát triển bền vững

(TBTCO) - Tăng vốn điều lệ là một trong những vấn đề quan trọng và cách hữu hiệu nhất giúp ngân hàng tăng tỷ lệ an toàn vốn, đảm bảo an toàn hoạt động và là cơ sở để mở rộng hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
aa

Vai trò thiết yếu của tăng vốn điều lệ

Theo quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP, đến ngày 31/12/2010 các ngân hàng thương mại (NHTM) phải đảm bảo vốn pháp định 3.000 tỷ đồng và sau đó được gia hạn đến ngày 31/12/2011. Vì vậy, năm 2011 cũng là thời điểm các ngân hàng chạy đua tăng vốn để thỏa quy định 3.000 tỷ đồng vốn điều lệ như SGB, KLB, VBB, NCB, OCB, NAB…

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố, cách đây 10 năm, năm 2014, vốn điều lệ của nhóm NHTM Nhà nước chiếm tỷ trọng 30% trong toàn hệ thống, nhóm NHTM tư nhân chiếm 44%.

Ngân hàng chủ động tăng vốn, tạo đà phát triển bền vững
Nguồn: Tổng hợp từ NHNN

Thế nhưng, số liệu đến cuối tháng 6/2024, tỷ trọng vốn điều lệ của hai nhóm này tương ứng là 21% và 55%, cho thấy sự tăng trưởng vượt trội trên đường đua tăng vốn của nhóm NHTM tư nhân.

Cụ thể, vốn điều lệ của nhóm NHTM Nhà nước tính đến 31/12/2024 là 228.229 tỷ đồng, chỉ tăng thêm 94.023 tỷ đồng, tương đương tăng 41% so với cuối năm 2014. Còn vốn điều lệ của nhóm NHTM tư nhân đạt 587.850 tỷ đồng, tăng đến 396.735 tỷ đồng, tương đương tốc độ tăng đến 67%.

Nhóm NHTM tư nhân có cơ hội bứt phá về vốn điều lệ đặc biệt trong giai đoạn 2017 -n2018, khi các ngân hàng ồ ạt niêm yết lên sàn chứng khoán, mở ra cơ hội tăng vốn cũng như tìm kiếm cổ đông chiến lược tiềm năng, tận dụng cả cơ hội huy động vốn trong và ngoài nước.

Ngoài đảm bảo quy định của cơ quan quản lý, tăng vốn điều lệ là yếu tố tiên quyết, giúp ngân hàng gia tăng nguồn vốn trung và dài hạn để mở rộng hoạt động kinh doanh khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn đang dần bị siết lại theo lộ trình tại Thông tư số 08/2020/TT-NHNN ngày 14/08/2020 của NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Đồng thời, việc tăng vốn nhằm đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR) theo quy định của các cơ quan chức năng, hướng tới đáp ứng chuẩn mực quốc tế, tăng trưởng lợi nhuận liên tục hàng năm.

Tăng vốn còn là nhiệm vụ thực hiện theo Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 – 2025 tại Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 8/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Một trong những mục tiêu quan trọng là đến năm 2023, tỷ lệ CAR của các NHTM đạt tối thiểu 10 - 11%; đến năm 2025 đạt tối thiểu 11 - 12%.

Sau 10 năm, tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ cao, dẫn đến hệ số CAR của nhóm NHTM tư nhân cao hơn nhiều so với nhóm NHTM Nhà nước.

Hiện tại các ngân hàng luôn chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ và tầm trung, bao gồm các phương thức tăng vốn linh hoạt, cải thiện hiệu quả hoạt động, và tuân thủ các quy định pháp lý mới để duy trì sự phát triển bền vững trong bối cảnh thị trường hiện tại.

Hiện tại các ngân hàng luôn chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ và tầm trung, bao gồm các phương thức tăng vốn linh hoạt, cải thiện hiệu quả hoạt động, và tuân thủ các quy định pháp lý mới để duy trì sự phát triển bền vững trong bối cảnh thị trường hiện tại.

Cụ thể, năm 2014, mức tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của nhóm NHTM Nhà nước là 9,4%, nhóm NHTM tư nhân là 12,07%. Đến tháng 6/2024, tỷ lệ an toàn vốn của nhóm NHTM cổ phần (11,86%) cũng cao hơn nhóm NHTM Nhà nước (9,99%), áp dụng theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN.

Như vậy, có thể thấy tăng vốn điều lệ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của các ngân hàng. Không chỉ giúp các ngân hàng đáp ứng các yêu cầu pháp lý và quy định của cơ quan quản lý, tăng vốn điều lệ còn mở rộng khả năng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính, và củng cố khả năng cạnh tranh trên thị trường của các ngân hàng.

Ngân hàng chủ động tăng vốn, tạo đà phát triển bền vững

Từ năm 2020 tỷ lệ CAR vẽ theo ngân hàng áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN. Nguồn: Tổng hợp từ NHNN

Tăng vốn điều lệ thông qua chia cổ tức đang trở thành xu hướng

Có nhiều hình thức giúp ngân hàng tăng vốn điều lệ như: Phát hành cổ phiếu mới, trái phiếu chuyển đổi, và hợp tác với các nhà đầu tư chiến lược. Tuy nhiên, tùy tình hình tài chính, định hướng chiến lược, mong muốn của cổ đông cũng như tình hình kinh tế mỗi thời điểm mà ngân hàng quyết định phương thức tăng vốn.

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán hiện tại chưa thật sự sôi động, phát hành cổ phiếu mới gặp nhiều khó khăn khi thu hút cổ đông mua cổ phiếu. Thêm nữa, ngân hàng còn phải cân nhắc tác động của việc phát hành cổ phiếu mới lên tỷ lệ sở hữu hiện tại của các cổ đông và tuân thủ quy định của cơ quan quản lý.

Do đó, việc phát hành cổ phiếu để chia cổ tức - phương pháp tăng vốn không cần huy động thêm từ bên ngoài đang dần trở thành xu hướng tại các ngân hàng, nhất là sau dịch COVID-19.

Ngân hàng có thể sử dụng lượng cổ tức tích lũy để phát hành cổ phiếu cho các cổ đông hiện tại. Đây là giải pháp hợp lý khi ngân hàng muốn duy trì sự đồng lòng của các cổ đông và không muốn chia sẻ quyền sở hữu với các nhà đầu tư mới.

Giai đoạn khắc phục sau dịch COVID-19 (2021 - 2022), NHNN khuyến khích các ngân hàng không chia cổ tức bằng tiền mặt để dành nguồn lực giảm lãi suất cho vay. Do đó, hầu hết các ngân hàng phải chuyển sang chi trả cổ tức bằng cổ phiếu.

Đến năm 2023, song song với tỷ lệ cổ tức bằng cổ phiếu, ngân hàng chi trả thêm cổ tức bằng tiền với tỷ lệ nhất định. Điều này không chỉ đến từ việc NHNN không còn siết chính sách cổ tức tiền mặt, mà còn làm hài lòng một bộ phận cổ đông không còn mặn mà với việc nhận cổ tức cổ phiếu khi thị trường chứng khoán vừa qua không mấy khả quan.

Ở nhóm ngân hàng TMCP Nhà nước, từ cuối năm 2023, NHNN đã cho phép nhóm này tăng vốn điều lệ, để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn và củng cố dư địa cho vay. Vietcombank phát hành thêm 2,17 tỷ cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 38,79%.

Sau khi hoàn tất, vốn điều lệ ngân hàng này sẽ tăng từ 55.891 tỷ đồng lên mức hơn 77.571 tỷ đồng. VietinBank cũng được phê duyệt sử dụng phần lợi nhuận còn lại năm 2022, khoảng 11.648 tỷ đồng để chia cổ tức bằng cổ phiếu, nâng vốn điều lệ từ 53.700 tỷ đồng lên hơn 65.300 tỷ đồng.

Hay như Agribank đã được Quốc hội XV chấp thuận bổ sung vốn điều lệ giai đoạn 2021 - 2030 tối đa là 17.100 tỷ đồng. Nếu được bổ sung, Agribank sẽ tăng vốn điều lệ lên hơn 51.500 tỷ đồng.

Các ngân hàng tư nhân cũng liên tục được NHNN chấp thuận tăng vốn điều lệ và hoàn thành thủ tục thay đổi giấy phép kể từ đầu năm 2024.

Hồi cuối tháng 7/2024, NHNN đã chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 20%, mức tối đa là 4.109 tỷ đồng. Sau khi phát hành thành công, vốn điều lệ của Ngân hàng sẽ tăng từ 20.548 tỷ đồng lên 24.658 tỷ đồng.

Trước đó, NAB cũng được chấp thuận tăng vốn điều lệ từ mức 10.580 tỷ đồng lên 13.725 tỷ đồng thông qua chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 25% và phát hành 50 triệu cổ phiếu ESOP với giá 10.000 đồng/cổ phiếu.

Trong khi đó, Vietbank dự kiến dùng gần 1.445 tỷ đồng để chia cổ tức bằng cổ phiếu và giữ lại 148 tỷ đồng. Cụ thể, Vietbank tiếp tục triển khai phương án tăng vốn thông qua chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (đã được NHNN phê duyệt hồi tháng 7/2023) với tổng số tiền tăng thêm là 1.003 tỷ đồng, nâng vốn điều lệ từ 4.777 tỷ đồng lên 5.780 tỷ đồng. Đến hiện tại, Ngân hàng đã hoàn tất chào bán hơn 100,3 triệu cổ phiếu và đang thực hiện các thủ tục đề nghị NHNN chấp thuận sửa đổi giấy phép, dự kiến hoàn thành trong quý III/2024.

Vietbank còn dự kiến phát hành gần 144,5 triệu cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu, tương ứng tỷ lệ 25%, dự kiến thực hiện trong quý III hoặc IV/2024. Tổng mệnh giá phát hành tương ứng gần 1.445 tỷ đồng. Nếu hoàn tất thủ tục chỉnh sửa giấy phép vốn điều lệ và phát hành thành công cổ phiếu để trả cổ tức, vốn điều lệ Vietbank sẽ tăng lên mức gần 7.225 tỷ đồng.

Những năm trở lại đây, các ngân hàng quy mô nhỏ và trung bình là nhóm ngân hàng chủ động tăng vốn điều lệ liên tục. Gia nhập đường đua tăng vốn trễ, nhưng tốc độ tăng trưởng lại nhanh hơn các ngân hàng khác sau 10 năm như OCB (5,8 lần), NamABank (3,5 lần), ABBank, BacABank và Vietbank tăng lên gấp đôi.

Dù Vietbank (VBB) thành lập trễ so với các ngân hàng khác trong hệ thống (2006), nhưng sau 8 lần tăng vốn bằng nhiều hình thức khác nhau, vốn điều lệ đã tăng từ 200 tỷ đồng lên 5.712 tỷ đồng (30/6/2024). Nhờ vào các cổ đông chiến lược, chính sách thu hút nhân tài, định hướng kinh doanh bài bản, kết quả kinh doanh của Ngân hàng sau mỗi đợt tăng vốn tăng trưởng hơn. Qua đó, dư địa thu hút thêm các cổ đông chiến lược trong tương lai và khả năng tăng trưởng vốn điều lệ còn rất cao.

Cùng với kế hoạch tăng trưởng quy mô kinh doanh hàng năm, việc tăng vốn điều lệ là cần thiết để giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính như: Tăng trưởng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh và đáp ứng kế hoạch mở rộng mạng lưới giao dịch; tiếp tục đầu tư cho các hệ thống công nghệ phục vụ cho việc hiện đại hóa ngân hàng, hỗ trợ cho việc phát triển sản phẩm mới, tăng trải nghiệm dịch vụ khách hàng.

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vốn điều lệ còn được xem như “bộ đệm” dự phòng, đem lại nguồn lực cho các ngân hàng sẵn sàng ứng phó với thách thức trong môi trường kinh tế chưa ổn định; tạo điều kiện thuận lợi hơn để ngân hàng đẩy mạnh hoạt động tín dụng, hỗ trợ vốn cho nền kinh tế theo định hướng của Chính phủ./.

Một điều cần lưu ý, Luật Tổ chức tín dụng (TCTD) mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc tăng vốn điều lệ của các ngân hàng. Luật mới đặt ra các yêu cầu và quy định về vốn tối thiểu, quản lý rủi ro, và tổ chức tín dụng, tạo ra cả cơ hội và thách thức. Các ngân hàng cần phải tuân thủ các quy định này để đảm bảo hoạt động phù hợp với pháp luật, đồng thời nâng cao chất lượng quản lý và cải thiện khả năng tài chính.
Kỳ Phương

Đọc thêm

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

(TBTCO) - Ngày 22/9/2026, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện, mở ra cơ hội kết nối sâu rộng giữa 2 bên trong việc triển khai các giải pháp tài chính – ngân hàng vượt trội phục vụ nhu cầu phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 23/9, Ngân hàng Nhà nước hạ tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.635 đồng/USD, các ngân hàng giữ tỷ giá ổn định. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng lên 100,54 điểm, thị trường thận trọng chờ tiến triển giữa Mỹ - Iran quanh eo biển Hormuz, cùng diễn biến từ Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 ▼110K 14,400 ▼110K
Trang sức 99.99 13,810 ▼110K 14,410 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼11K 14,442 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼11K 14,443 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▲1267K 1,439 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▲1267K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼11K 1,429 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼1089K 141,485 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼825K 107,336 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▲78704K 97,332 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▼671K 87,328 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▲66238K 83,469 ▲75058K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼459K 59,745 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cập nhật: 24/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17737 18011 18593
CAD 17894 18169 18786
CHF 30759 31136 31771
CNY 0 3829 3925
EUR 28951 29169 30249
GBP 33608 33996 34930
HKD 0 3183 3386
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14436 15022
SGD 19770 20052 20619
THB 692 755 808
USD (1,2) 25730 0 0
USD (5,10,20) 25769 0 0
USD (50,100) 25797 25811 26178
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25815 25815 26175
AUD 17927 18027 18950
CAD 18076 18176 19190
CHF 31010 31040 32621
CNY 3811.8 3836.8 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33873 33923 35694
HKD 0 3315 0
JPY 160.21 160.71 171.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14537 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20780
THB 0 721.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,705 25,825 26,500
USD20 25,675 25,825 26,500
USD1 25,655 25,825 26,500
AUD 17,969 18,069 19,175
EUR 28,922 29,022 30,682
CAD 18,026 18,126 19,434
SGD 20,002 20,152 20,710
JPY 161.41 162.91 168.48
GBP 33,802 33,952 35,295
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 758 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30