Ngân hàng lo lắng về hiệu quả xử lý nợ do vướng mắc thi hành án

Chí Tín
(TBTCO) - Các dự báo mới nhất cho thấy tốc độ tăng trưởng có thể sẽ xấp xỉ chỉ tiêu đề ra, nhưng bên cạnh tín hiệu đáng mừng thì các ngân hàng vẫn còn lo lắng về các vấn đề xử lý rủi ro tín dụng. Trong đó, một trong những vướng mắc đang tồn tại là hiệu quả trong thi hành án dân sự.
aa
Ngân hàng lo lắng về hiệu quả xử lý nợ do vướng mắc thi hành án
Tính đến hết tháng 6/2024, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 6,1%. Ảnh tư liệu

Tăng trưởng vẫn có thể đạt hơn 14%

Đầu năm 2024, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt khoảng 15% và NHNN đã giao sớm chỉ tiêu cho từng ngân hàng ngay từ đầu năm.

Trong khoảng nửa đầu năm 2024, tín dụng nhiều thời điểm tăng trưởng chậm và thậm chí có một số tháng tăng trưởng âm khiến nhiều ý kiến lo ngại về khả năng hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Tính đến hết tháng 6/2024, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 6,1%, như vậy sau hơn nửa năm, tăng trưởng tín dụng mới đạt khoảng hơn 40% mục tiêu tăng trưởng cả năm. Trong đó, một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn so với tốc độ bình quân chung như nông lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,52%, xây dựng đạt 3,25%, vận tải và viễn thông đạt 3,59%...

Luật hóa một số quy định về nợ xấu

Một trong những điểm mới của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 là đã luật hóa một số quy định về nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như: bán nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Mặc dù vậy, các dự báo mới đưa ra cho thấy xu hướng tín dụng có thể sẽ có những tín hiệu lạc quan hơn trong thời gian tới. Kết quả điều tra hoạt động của các Tổ chức tín dụng quý II/2024 do Vụ Dự báo thống kê thuộc NHNN thực hiện dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt 13,6%. Tuy nhiên, dự báo quý III/2024 cũng do cơ quan này thực hiện đã nâng lên khả năng có thể đạt tăng trưởng tín dụng 14,1% trong năm 2024. Theo đó, kịch bản tăng trưởng tín dụng diễn ra theo dự báo mới nhất thì kết quả sẽ không thấp hơn quá nhiều so với mục tiêu 15% đề ra.

Các dự báo khả quan hơn về tín dụng dựa trên các tín hiệu tích cực hơn của nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2024 tăng 11,2%, bảy tháng năm 2024 tăng 8,5%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 11,9% và luân chuyển tăng 5,5%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,5% và luân chuyển tăng 12,4%. Tính chung bảy tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 7,2% và luân chuyển tăng 10,5%; vận chuyển hàng hóa tăng 13,3% và luân chuyển tăng 11,3%. Thương mại toàn cầu được cải thiện đã tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, nhờ vậy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 439,88 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 15,7%; nhập khẩu tăng 18,5%.

Tìm giải pháp tăng hiệu quả xử lý nợ

Trong bối cảnh tín dụng phát đi các tín hiệu tăng trưởng khả quan nhờ nền kinh tế, các ngân hàng cũng đặt mối quan tâm nhiều hơn trong hiệu quả xử lý nợ xấu. Đặc biệt, trong những nội dung các ngân hàng “trăn trở” trong thời gian gần đây là tính thực thi trong thi hành án đối với các vụ án liên quan đến tín dụng ngân hàng.

Ông Nguyễn Thành Long - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp ngân hàng (Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam) cho biết, thực tế tại các ngân hàng vẫn còn tồn tại nhiều vụ việc thi hành án bị trì hoãn trong thời gian dài, số lượng án tồn đọng còn nhiều, ảnh hưởng đến kết quả thu hồi nợ xấu của các ngân hàng. Cụ thể, qua tổng hợp số liệu của 15 ngân hàng hội viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, đến nay có 399 vụ việc thi hành án có khó khăn, vướng mắc, trong đó tập trung vào các địa bàn lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An...

Theo ông Long, những vướng mắc, tồn tại gặp phải trong thực tiễn thi hành án đó là vướng mắc bất cập quy định pháp luật; trong thực tiễn thi hành tại các cơ quan thi hành án. Chẳng hạn như chậm kê biên/xử lý tài sản đảm bảo; chậm bàn giao tài sản, chậm chuyển trả tiền xử lý tài sản cho tổ chức tín dụng. Một số vướng mắc khác như chưa thống nhất trong việc xử lý tài sản đảm bảo kê biên có hiện trạng khác so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sử dụng đất nông nghiệp hết thời hạn sử dụng…

Đứng trước những vấn đề trên, ông Nguyễn Văn Sơn - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) cho biết, đối với các vụ việc liên quan tới tín dụng ngân hàng, dù số lượng vụ việc không nhiều trong tổng số các vụ việc chung, tuy nhiên chiếm giá trị khá lớn. Chính vì thế, Tổng cục xác định đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, sẽ chú trọng nâng cao chất lượng. Mặc dù việc xử lý mới chỉ dừng lại ở mức cơ bản, nhưng trong những tháng đầu năm 2024 đã đạt kết quả khả quan cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Tổng cục Thi hành án dân sự cho biết cơ quan này đang tiếp thu các ý kiến để hoàn thiện cơ chế chính sách nói chung, hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án Dân sự.

Lấy kiến góp ý Dự thảo Thông tư về mua bán giấy tờ có giá

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa có công văn gửi Tổng Giám đốc các tổ chức hội viên mời góp ý đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 12/2012/TT-NHNN. Đây là văn bản quy định về tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng khác phát hành trong nước.

Theo Dự thảo thông tư, Ngân hàng Nhà nước đưa đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung để thống nhất với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024, trong đó có quy định công ty tài chính tổng hợp được mua, bán trái phiếu doanh nghiệp; mua, bán giấy tờ có giá khác (điểm b khoản 1 Điều 119), công ty tài chính chuyên ngành được mua, bán chứng chỉ tiền gửi do tổ chức tín dụng phát hành trong nước (điểm c khoản 1 Điều 124). Ban soạn thảo cũng đề xuất bổ sung cụm từ “chứng chỉ tiền gửi” để phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.

Dự thảo cũng bổ sung quy định về Điều khoản thi hành. Theo đó, đối với việc mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu đã phát hành chưa đến hạn thanh toán, tổ chức tín dụng thực hiện như đối với chứng chỉ tiền gửi quy định tại Thông tư 12/2021/TT-NHNN đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Thông tư này cho đến ngày kỳ phiếu, tín phiếu đó đến hạn thanh toán.

Cơ sở đề xuất nội dung trên dựa trên khoản 2, khoản 4 Điều 210 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 có quy định hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận được ký kết trước ngày Luật có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng và khách hàng được tiếp tục thực hiện theo hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận đã ký kết cho đến hết thời hạn của hợp đồng. Việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận chỉ được thực hiện nếu nội dung sửa đổi, bổ sung, gia hạn phù hợp với quy định của Luật này.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80