Ngân hàng lo lắng về hiệu quả xử lý nợ do vướng mắc thi hành án

Chí Tín
(TBTCO) - Các dự báo mới nhất cho thấy tốc độ tăng trưởng có thể sẽ xấp xỉ chỉ tiêu đề ra, nhưng bên cạnh tín hiệu đáng mừng thì các ngân hàng vẫn còn lo lắng về các vấn đề xử lý rủi ro tín dụng. Trong đó, một trong những vướng mắc đang tồn tại là hiệu quả trong thi hành án dân sự.
aa
Ngân hàng lo lắng về hiệu quả xử lý nợ do vướng mắc thi hành án
Tính đến hết tháng 6/2024, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 6,1%. Ảnh tư liệu

Tăng trưởng vẫn có thể đạt hơn 14%

Đầu năm 2024, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt khoảng 15% và NHNN đã giao sớm chỉ tiêu cho từng ngân hàng ngay từ đầu năm.

Trong khoảng nửa đầu năm 2024, tín dụng nhiều thời điểm tăng trưởng chậm và thậm chí có một số tháng tăng trưởng âm khiến nhiều ý kiến lo ngại về khả năng hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Tính đến hết tháng 6/2024, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 6,1%, như vậy sau hơn nửa năm, tăng trưởng tín dụng mới đạt khoảng hơn 40% mục tiêu tăng trưởng cả năm. Trong đó, một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn so với tốc độ bình quân chung như nông lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,52%, xây dựng đạt 3,25%, vận tải và viễn thông đạt 3,59%...

Luật hóa một số quy định về nợ xấu

Một trong những điểm mới của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 là đã luật hóa một số quy định về nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như: bán nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Mặc dù vậy, các dự báo mới đưa ra cho thấy xu hướng tín dụng có thể sẽ có những tín hiệu lạc quan hơn trong thời gian tới. Kết quả điều tra hoạt động của các Tổ chức tín dụng quý II/2024 do Vụ Dự báo thống kê thuộc NHNN thực hiện dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt 13,6%. Tuy nhiên, dự báo quý III/2024 cũng do cơ quan này thực hiện đã nâng lên khả năng có thể đạt tăng trưởng tín dụng 14,1% trong năm 2024. Theo đó, kịch bản tăng trưởng tín dụng diễn ra theo dự báo mới nhất thì kết quả sẽ không thấp hơn quá nhiều so với mục tiêu 15% đề ra.

Các dự báo khả quan hơn về tín dụng dựa trên các tín hiệu tích cực hơn của nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2024 tăng 11,2%, bảy tháng năm 2024 tăng 8,5%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 11,9% và luân chuyển tăng 5,5%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,5% và luân chuyển tăng 12,4%. Tính chung bảy tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 7,2% và luân chuyển tăng 10,5%; vận chuyển hàng hóa tăng 13,3% và luân chuyển tăng 11,3%. Thương mại toàn cầu được cải thiện đã tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, nhờ vậy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 439,88 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 15,7%; nhập khẩu tăng 18,5%.

Tìm giải pháp tăng hiệu quả xử lý nợ

Trong bối cảnh tín dụng phát đi các tín hiệu tăng trưởng khả quan nhờ nền kinh tế, các ngân hàng cũng đặt mối quan tâm nhiều hơn trong hiệu quả xử lý nợ xấu. Đặc biệt, trong những nội dung các ngân hàng “trăn trở” trong thời gian gần đây là tính thực thi trong thi hành án đối với các vụ án liên quan đến tín dụng ngân hàng.

Ông Nguyễn Thành Long - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp ngân hàng (Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam) cho biết, thực tế tại các ngân hàng vẫn còn tồn tại nhiều vụ việc thi hành án bị trì hoãn trong thời gian dài, số lượng án tồn đọng còn nhiều, ảnh hưởng đến kết quả thu hồi nợ xấu của các ngân hàng. Cụ thể, qua tổng hợp số liệu của 15 ngân hàng hội viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, đến nay có 399 vụ việc thi hành án có khó khăn, vướng mắc, trong đó tập trung vào các địa bàn lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An...

Theo ông Long, những vướng mắc, tồn tại gặp phải trong thực tiễn thi hành án đó là vướng mắc bất cập quy định pháp luật; trong thực tiễn thi hành tại các cơ quan thi hành án. Chẳng hạn như chậm kê biên/xử lý tài sản đảm bảo; chậm bàn giao tài sản, chậm chuyển trả tiền xử lý tài sản cho tổ chức tín dụng. Một số vướng mắc khác như chưa thống nhất trong việc xử lý tài sản đảm bảo kê biên có hiện trạng khác so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sử dụng đất nông nghiệp hết thời hạn sử dụng…

Đứng trước những vấn đề trên, ông Nguyễn Văn Sơn - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) cho biết, đối với các vụ việc liên quan tới tín dụng ngân hàng, dù số lượng vụ việc không nhiều trong tổng số các vụ việc chung, tuy nhiên chiếm giá trị khá lớn. Chính vì thế, Tổng cục xác định đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, sẽ chú trọng nâng cao chất lượng. Mặc dù việc xử lý mới chỉ dừng lại ở mức cơ bản, nhưng trong những tháng đầu năm 2024 đã đạt kết quả khả quan cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Tổng cục Thi hành án dân sự cho biết cơ quan này đang tiếp thu các ý kiến để hoàn thiện cơ chế chính sách nói chung, hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án Dân sự.

Lấy kiến góp ý Dự thảo Thông tư về mua bán giấy tờ có giá

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa có công văn gửi Tổng Giám đốc các tổ chức hội viên mời góp ý đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 12/2012/TT-NHNN. Đây là văn bản quy định về tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng khác phát hành trong nước.

Theo Dự thảo thông tư, Ngân hàng Nhà nước đưa đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung để thống nhất với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024, trong đó có quy định công ty tài chính tổng hợp được mua, bán trái phiếu doanh nghiệp; mua, bán giấy tờ có giá khác (điểm b khoản 1 Điều 119), công ty tài chính chuyên ngành được mua, bán chứng chỉ tiền gửi do tổ chức tín dụng phát hành trong nước (điểm c khoản 1 Điều 124). Ban soạn thảo cũng đề xuất bổ sung cụm từ “chứng chỉ tiền gửi” để phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.

Dự thảo cũng bổ sung quy định về Điều khoản thi hành. Theo đó, đối với việc mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu đã phát hành chưa đến hạn thanh toán, tổ chức tín dụng thực hiện như đối với chứng chỉ tiền gửi quy định tại Thông tư 12/2021/TT-NHNN đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Thông tư này cho đến ngày kỳ phiếu, tín phiếu đó đến hạn thanh toán.

Cơ sở đề xuất nội dung trên dựa trên khoản 2, khoản 4 Điều 210 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 có quy định hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận được ký kết trước ngày Luật có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng và khách hàng được tiếp tục thực hiện theo hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận đã ký kết cho đến hết thời hạn của hợp đồng. Việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận chỉ được thực hiện nếu nội dung sửa đổi, bổ sung, gia hạn phù hợp với quy định của Luật này.

Chí Tín

Đọc thêm

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▼50K 15,450 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▼50K 15,400 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,850 ▼150K 16,250 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,800 ▼150K 16,200 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,730 ▼150K 16,180 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,100 ▼100K 16,400 ▼100K
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,590 ▼100K 16,290 ▼100K
Trang sức 99.99 15,600 ▼100K 16,300 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18381 18657 19235
CAD 18636 18914 19531
CHF 32884 33269 33921
CNY 0 3837 3929
EUR 30060 30333 31360
GBP 34409 34801 35733
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15163 15750
SGD 20078 20361 20881
THB 726 789 843
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,260 30,284 31,569
JPY 162.13 162.42 171.36
GBP 34,703 34,797 35,819
AUD 18,680 18,747 19,356
CAD 18,871 18,932 19,528
CHF 33,234 33,337 34,148
SGD 20,252 20,315 21,007
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,436
KRW 16.24 16.94 18.34
THB 775.7 785.28 836.28
NZD 15,218 15,359 15,736
SEK - 2,760 2,843
DKK - 4,049 4,171
NOK - 2,796 2,886
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,260.74 - 7,041.42
TWD 755.27 - 910.37
SAR - 6,919.11 7,251.08
KWD - 83,912 88,833
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26387
AUD 18600 18700 19626
CAD 18832 18932 19946
CHF 33155 33185 34768
CNY 3818.6 3843.6 3979.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30256 30286 32011
GBP 34738 34788 36549
HKD 0 3355 0
JPY 162.8 163.3 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15305 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20247 20377 21106
THB 0 755.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,186 26,236 26,387
USD20 26,186 26,236 26,387
USD1 26,186 26,236 26,387
AUD 18,647 18,747 19,855
EUR 30,405 30,405 31,811
CAD 18,781 18,881 20,188
SGD 20,323 20,473 21,280
JPY 163.24 164.74 169.3
GBP 34,627 34,977 35,842
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 792 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80