Thị trường tiền tệ tuần 10-14/3:

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng lập kỷ lục mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/3) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng cường bơm thanh khoản qua thị trường mở (OMO), giúp hệ thống ngân hàng giảm bớt áp lực huy động vốn. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước duy trì sức nóng tăng vọt, giá vàng nhẫn lại tiếp tục thiết lập đỉnh mới.
aa
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi vay, giá vàng giảm mạnh Thị trường tiền tệ tuần 3-7/3: Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu, giá vàng lại “nhảy múa”

Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục bơm thanh khoản

Trong cuối tháng 2, đầu tháng 3/2025, NHNN đã giảm cả khối lượng và lãi suất tín phiếu, đồng thời duy trì hoạt động bơm thanh khoản qua thị trường mở nhằm giảm áp lực huy động cho các ngân hàng thương mại.

Chỉ trong thời gian ngắn, đã có những động thái đáng chú ý trên thị trường liên ngân hàng, bao gồm giảm cả khối lượng và lãi suất tín phiếu, đồng thời duy trì hoạt động bơm thanh khoản qua thị trường mở (OMO).

Cụ thể, lãi suất tín phiếu đã giảm mạnh từ mức 3,8%/năm vào cuối tháng 2/2025 xuống 3,1%/năm trong phiên ngày 4/3/2025, khối lượng tín phiếu cũng giảm dần và dừng lại kể từ ngày 5/3/2025. Ở chiều ngược lại, NHNN duy trì bơm thanh khoản qua OMO và phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản kỳ hạn dài hơn (28 ngày, 35 ngày, 91 ngày).

Việc giảm lượng phát hành tín phiếu, trong khi vẫn duy trì bơm OMO, đang giúp thanh khoản thị trường liên ngân hàng trở nên dồi dào hơn.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng lập kỷ lục mới
Ngân hàng Nhà nước tăng cường bơm thanh khoản qua thị trường mở (OMO), giúp hệ thống ngân hàng giảm bớt áp lực huy động vốn. Ảnh: T.L
NHNN yêu cầu phải luôn luôn công khai minh bạch lãi suất cho vay doanh nghiệp lựa chọn. Quan điểm của NHNN về điều hành tỷ giá ngoại tệ là tiếp tục ổn định. NHNN sẽ nghiên cứu giảm thêm lãi suất trên thị trường mở sao cho hợp lý, vì không phải cứ giảm là tốt bởi lãi suất liên quan chặt chẽ đến tỷ giá.

Trước đó, từ cuối năm 2024 đến tháng 2/2025, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong bối cảnh khối lượng cho vay cao hơn khối lượng huy động, buộc các NHTM phải tăng lãi suất huy động để cạnh tranh tiền gửi. Sau khi NHNN bơm thanh khoản, các NHTM đã giảm lãi suất huy động do áp lực cạnh tranh tiền gửi không còn quá cao.

Tuy nhiên, lãi suất cho vay sẽ chưa thể giảm ngay. Nguyên nhân đến từ việc bơm thanh khoản qua OMO thường tập trung vào các kỳ hạn ngắn (7 ngày, 14 ngày, 28 ngày), trong khi hoạt động tín dụng trên thị trường thường có kỳ hạn dài hơn. Sự chênh lệch kỳ hạn khiến việc điều chỉnh giảm lãi suất trên thị trường 1 (thị trường dân cư và doanh nghiệp) sẽ có độ trễ nhất định và cần ít nhất 2-3 quý để thẩm thấu vào nền kinh tế. Nói cách khác, việc bơm thanh khoản hiện tại chưa thể kéo giảm lãi suất ngay lập tức, nhưng sẽ tạo điều kiện cho khả năng giảm lãi suất trong nửa cuối năm (nếu có).

Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú khẳng định NHNN luôn đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Khi thanh khoản đã được bảo đảm, các ngân hàng không cần đẩy lãi suất huy động lên cao. Phó Thống đốc cũng cho biết, trong thời gian tới, NHNN sẽ linh hoạt hơn trong việc sử dụng các công cụ, đặc biệt như tái cấp vốn, cũng như tham gia thị trường liên ngân hàng để giải quyết vốn trên thị trường.

Giá vàng nhẫn lại lập kỷ lục mới

Thị trường vàng tuần qua diễn biến rất sôi động, thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 14/3/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.989,31 USD/ounce, tăng 78 USD/ounce so với tuần trước đó. Giá vàng thế giới sáng nay áp sát mốc 3.000 USD/ounce – mức kỷ lục chưa từng có trong lịch sử.

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 91,255 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.734 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 92,6 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Nỗi lo lạm phát giảm tiếp tục tác động đến giá vàng, vì các nhà đầu tư vẫn coi kim loại quý là tài sản trú ẩn an toàn quan trọng để phòng ngừa rủi ro trước tình hình kinh tế bất ổn ngày càng gia tăng. Báo cáo chỉ số giá tiêu dùng, vừa được Mỹ công bố, tăng 0,2% vào tháng trước sau khi tăng 0,5% trong tháng 1. Lạm phát dịu hơn củng cố kỳ vọng cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong năm nay cũng tạo lực đẩy cho kim loại quý.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng lập kỷ lục mới
Giá vàng nhẫn vượt mốc 96 triệu đồng/lượng. Ảnh: T.L

Diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước có một tuần tăng mạnh. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 14/3 giữ ở mức 95,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 94,4 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh từ 3,1-3,7 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng ghi nhận mức tăng mạnh và vượt mốc 96 triệu đồng/lượng, tiếp tục thiết lập kỷ lục mới. Với mức giá này, giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao hơn với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 14/3, tại DOJI, giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 96,3 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 94,9 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 94,8- 96,3 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 94,95 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 96,5 triệu đồng/lượng. So với giá vàng tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng từ 3,2 đến 3,8 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá tuần qua cũng có dấu hiệu nhích tăng nhẹ, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 3/3 ghi nhận ở mức 24.730 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng vào ngày thứ Ba và thứ Tư sau đó điều chỉnh giảm tỷ giá và hôm thứ Năm và giữ nguyên tỷ giá vào ngày cuối tuần.

Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.758 đồng/USD, tăng 28 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng trong những tháng gần đây.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng có dấu hiệu hạ nhiệt. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.690 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh tăng giảm tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.680 đồng/USD, giảm 10 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY có xu hướng giảm nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm nhẹ trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 14/3/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 103,96 điểm, giảm nhẹ so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần, chỉ số này có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng vào thời gian qua.

Mai Tấn

Đọc thêm

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼200K 14,590 ▼200K
Trang sức 99.99 13,900 ▼200K 14,600 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17657 17931 18505
CAD 18020 18295 18910
CHF 31786 32167 32804
CNY 0 3831 3923
EUR 29324 29544 30618
GBP 34331 34722 35652
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14816 15403
SGD 19757 20038 20604
THB 702 765 818
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,327 29,350 30,856
JPY 157.65 157.93 167.45
GBP 34,506 34,599 35,791
AUD 17,856 17,921 18,596
CAD 18,200 18,258 18,931
CHF 32,033 32,133 33,071
SGD 19,869 19,931 20,718
CNY - 3,798 3,943
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.06 16.75 18.23
THB 750.16 759.42 813.01
NZD 14,784 14,921 15,362
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,076
NOK - 2,636 2,732
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.22 - 6,790.66
TWD 739.46 - 895.19
SAR - 6,877.01 7,243.49
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26065 26065 26481
AUD 17844 17944 18869
CAD 18188 18288 19303
CHF 32014 32044 33626
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29476 29506 31232
GBP 34627 34677 36437
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.57
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14923 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19907 20037 20768
THB 0 731.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,094 26,144 26,450
USD20 26,094 26,144 26,450
USD1 26,094 26,144 26,450
AUD 17,901 18,001 19,106
EUR 29,307 29,407 31,065
CAD 18,143 18,243 19,549
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 158.89 160.39 165.92
GBP 34,544 34,694 35,756
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80