Thị trường tiền tệ tuần 10-14/3:

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng lập kỷ lục mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/3) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng cường bơm thanh khoản qua thị trường mở (OMO), giúp hệ thống ngân hàng giảm bớt áp lực huy động vốn. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước duy trì sức nóng tăng vọt, giá vàng nhẫn lại tiếp tục thiết lập đỉnh mới.
aa
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi vay, giá vàng giảm mạnh Thị trường tiền tệ tuần 3-7/3: Ngân hàng Nhà nước dừng phát hành tín phiếu, giá vàng lại “nhảy múa”

Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục bơm thanh khoản

Trong cuối tháng 2, đầu tháng 3/2025, NHNN đã giảm cả khối lượng và lãi suất tín phiếu, đồng thời duy trì hoạt động bơm thanh khoản qua thị trường mở nhằm giảm áp lực huy động cho các ngân hàng thương mại.

Chỉ trong thời gian ngắn, đã có những động thái đáng chú ý trên thị trường liên ngân hàng, bao gồm giảm cả khối lượng và lãi suất tín phiếu, đồng thời duy trì hoạt động bơm thanh khoản qua thị trường mở (OMO).

Cụ thể, lãi suất tín phiếu đã giảm mạnh từ mức 3,8%/năm vào cuối tháng 2/2025 xuống 3,1%/năm trong phiên ngày 4/3/2025, khối lượng tín phiếu cũng giảm dần và dừng lại kể từ ngày 5/3/2025. Ở chiều ngược lại, NHNN duy trì bơm thanh khoản qua OMO và phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản kỳ hạn dài hơn (28 ngày, 35 ngày, 91 ngày).

Việc giảm lượng phát hành tín phiếu, trong khi vẫn duy trì bơm OMO, đang giúp thanh khoản thị trường liên ngân hàng trở nên dồi dào hơn.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng lập kỷ lục mới
Ngân hàng Nhà nước tăng cường bơm thanh khoản qua thị trường mở (OMO), giúp hệ thống ngân hàng giảm bớt áp lực huy động vốn. Ảnh: T.L
NHNN yêu cầu phải luôn luôn công khai minh bạch lãi suất cho vay doanh nghiệp lựa chọn. Quan điểm của NHNN về điều hành tỷ giá ngoại tệ là tiếp tục ổn định. NHNN sẽ nghiên cứu giảm thêm lãi suất trên thị trường mở sao cho hợp lý, vì không phải cứ giảm là tốt bởi lãi suất liên quan chặt chẽ đến tỷ giá.

Trước đó, từ cuối năm 2024 đến tháng 2/2025, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong bối cảnh khối lượng cho vay cao hơn khối lượng huy động, buộc các NHTM phải tăng lãi suất huy động để cạnh tranh tiền gửi. Sau khi NHNN bơm thanh khoản, các NHTM đã giảm lãi suất huy động do áp lực cạnh tranh tiền gửi không còn quá cao.

Tuy nhiên, lãi suất cho vay sẽ chưa thể giảm ngay. Nguyên nhân đến từ việc bơm thanh khoản qua OMO thường tập trung vào các kỳ hạn ngắn (7 ngày, 14 ngày, 28 ngày), trong khi hoạt động tín dụng trên thị trường thường có kỳ hạn dài hơn. Sự chênh lệch kỳ hạn khiến việc điều chỉnh giảm lãi suất trên thị trường 1 (thị trường dân cư và doanh nghiệp) sẽ có độ trễ nhất định và cần ít nhất 2-3 quý để thẩm thấu vào nền kinh tế. Nói cách khác, việc bơm thanh khoản hiện tại chưa thể kéo giảm lãi suất ngay lập tức, nhưng sẽ tạo điều kiện cho khả năng giảm lãi suất trong nửa cuối năm (nếu có).

Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú khẳng định NHNN luôn đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Khi thanh khoản đã được bảo đảm, các ngân hàng không cần đẩy lãi suất huy động lên cao. Phó Thống đốc cũng cho biết, trong thời gian tới, NHNN sẽ linh hoạt hơn trong việc sử dụng các công cụ, đặc biệt như tái cấp vốn, cũng như tham gia thị trường liên ngân hàng để giải quyết vốn trên thị trường.

Giá vàng nhẫn lại lập kỷ lục mới

Thị trường vàng tuần qua diễn biến rất sôi động, thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 14/3/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.989,31 USD/ounce, tăng 78 USD/ounce so với tuần trước đó. Giá vàng thế giới sáng nay áp sát mốc 3.000 USD/ounce – mức kỷ lục chưa từng có trong lịch sử.

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 91,255 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.734 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 92,6 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Nỗi lo lạm phát giảm tiếp tục tác động đến giá vàng, vì các nhà đầu tư vẫn coi kim loại quý là tài sản trú ẩn an toàn quan trọng để phòng ngừa rủi ro trước tình hình kinh tế bất ổn ngày càng gia tăng. Báo cáo chỉ số giá tiêu dùng, vừa được Mỹ công bố, tăng 0,2% vào tháng trước sau khi tăng 0,5% trong tháng 1. Lạm phát dịu hơn củng cố kỳ vọng cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong năm nay cũng tạo lực đẩy cho kim loại quý.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng lập kỷ lục mới
Giá vàng nhẫn vượt mốc 96 triệu đồng/lượng. Ảnh: T.L

Diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước có một tuần tăng mạnh. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 14/3 giữ ở mức 95,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 94,4 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh từ 3,1-3,7 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng ghi nhận mức tăng mạnh và vượt mốc 96 triệu đồng/lượng, tiếp tục thiết lập kỷ lục mới. Với mức giá này, giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao hơn với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 14/3, tại DOJI, giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 96,3 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 94,9 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 94,8- 96,3 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 94,95 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 96,5 triệu đồng/lượng. So với giá vàng tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng từ 3,2 đến 3,8 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá tuần qua cũng có dấu hiệu nhích tăng nhẹ, tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 3/3 ghi nhận ở mức 24.730 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng vào ngày thứ Ba và thứ Tư sau đó điều chỉnh giảm tỷ giá và hôm thứ Năm và giữ nguyên tỷ giá vào ngày cuối tuần.

Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.758 đồng/USD, tăng 28 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng trong những tháng gần đây.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng có dấu hiệu hạ nhiệt. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.690 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục điều chỉnh tăng giảm tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.680 đồng/USD, giảm 10 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY có xu hướng giảm nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm nhẹ trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 14/3/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 103,96 điểm, giảm nhẹ so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần, chỉ số này có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng vào thời gian qua.

Mai Tấn

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80