Nhu cầu vốn phục hồi, đích tăng trưởng tín dụng vẫn... chênh vênh

Chí Tín
(TBTCO) - Tốc độ tăng trưởng tín dụng đã nhích tăng, cùng với một số tín hiệu từ thị trường liên ngân hàng, thị trường mở… cho thấy nhu cầu tín dụng đang có những tín hiệu phục hồi. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% trong năm 2024 vẫn khá xa vời, nhất là khi các ngân hàng rất thận trọng trước yêu cầu về an toàn tín dụng.
aa
Nhu cầu vốn phục hồi, đích tăng trưởng tín dụng vẫn... chênh vênh
Tính đến thời điểm 25/3/2024, huy động vốn của các tổ chức tín dụng giảm 0,76% so với cuối năm 2023. Ảnh tư liệu

Những tín hiệu thay đổi

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, trong tháng 3/2024, tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 0,98%, chấm dứt chuỗi 2 tháng đầu năm liên tiếp tăng trưởng tín dụng âm. Tính chung đến cuối tháng 3/2024, tín dụng nền kinh tế đạt khoảng 13,6 triệu tỷ đồng, tăng 0,26%. Số liệu tăng trưởng tín dụng của lĩnh vực ngân hàng đi kèm với các tín hiệu phục hồi chung của nền kinh tế, đặc biệt là sự cải thiện của tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), với GDP quý I/2024 tăng 5,66% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý I các năm 2020-2023.

Trong khi tín dụng tăng trưởng thì huy động vốn lại có dấu hiệu sụt giảm. Tính đến thời điểm 25/3/2024, huy động vốn của các tổ chức tín dụng giảm 0,76% so với cuối năm 2023. Động thái này một phần do các ngân hàng giảm nhu cầu huy động vốn bởi khi nhu cầu cho vay đầu năm không cao, dấu hiệu dòng tiền dư thừa trong hệ thống ngân hàng xuất hiện trong thời gian khoảng 2 tháng đầu năm 2024. Theo đó, việc NHNN có hành động phát hành tín phiếu trên thị trường mở từ hôm 11/3 cũng được xem là nhằm hút bớt lượng tiền thừa trong các ngân hàng thương mại, tránh việc các ngân hàng sử dụng số tiền này vào các nghiệp vụ không cần thiết, chẳng hạn như các công vụ phòng vệ rủi ro tỷ giá.

Tuy nhiên, hoạt động của NHNN thời gian gần đây cũng đã có thay đổi, khi có những phiên thực hiện mua vào tín phiếu. Điều này đồng nghĩa với việc NHNN bơm tiền trở lại hệ thống các ngân hàng thương mại. Chẳng hạn như trong phiên ngày 2/4, NHNN đã mua vào gần 6 nghìn tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 7 ngày và không bán tín phiếu trong phiên này; phiên ngày 3/4 cũng mua vào hơn 2,5 nghìn tỷ tín phiếu và chỉ bán ra 300 tỷ đồng tín phiếu.

Lãi suất tín phiếu được NHNN mua vào lên tới 4%, trong khi lãi suất tín phiếu bán ra trong phiên 3/4 chỉ là 1,9%. Động thái này không chỉ cho thấy NHNN ngay lập tức có “lãi” chênh lệch lãi suất khoảng 2,1% mà cũng là tín hiệu cho thấy, NHNN đã phải hành động để xử lý nhu cầu vốn cho một hoặc một số tổ chức tín dụng.

Còn nhiều “chênh vênh” phía trước

Nhu cầu vốn phục hồi, đích tăng trưởng tín dụng vẫn... chênh vênh

Ngoài động thái trên thị trường mở, diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng là những tín hiệu đáng quan tâm, khi lãi suất thị trường này cũng tăng vọt trong những ngày gần đây. Lãi suất cho vay qua đêm đầu tháng 4/2024 đã lên tới 4,59%/năm, gần sát mức trần lãi suất 5%, theo quy định của NHNN. Đây là mức lãi suất cao nhất của thị trường liên ngân hàng kể từ tháng 5/2023 đến nay.

Diễn biến tại thị trường liên ngân hàng theo đó đã đảo chiều khá nhanh khi chỉ khoảng hơn 10 ngày trước (vào khoảng ngày 22/3), lãi suất qua đêm vẫn giảm về mức rất thấp chỉ 0,13%/năm. Đặc biệt không chỉ lãi suất qua đêm, lãi suất các kỳ hạn dài hơn cũng leo cao với kỳ hạn 1 tuần là 4,71%, kỳ hạn 2 tuần là 4,47%, kỳ hạn 1 tháng là 4,3%, kỳ hạn 3 tháng là 4,7%, kỳ hạn 6 tháng là 4,87%...

Với mặt bằng lãi suất này, thị trường tiền tệ liên ngân hàng đang cho vay lẫn nhau với lãi suất cao hơn so với lãi suất huy động vốn bình quân từ khu vực dân cư. Điểm qua lãi suất huy động của một số ngân hàng thì hiện tại, BIDV đang huy động lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng là 1,7%; kỳ hạn 3 tháng là 2%; kỳ hạn 6 tháng là 3%... Với một ngân hàng cổ phần, hiện lãi suất của MB là 2,1% với kỳ hạn 1 tháng; 2,5% với kỳ hạn 3 tháng và 3,5% với kỳ hạn 6 tháng…

Diễn biến thị trường liên ngân hàng trong những ngày gần đây cho thấy, một số ngân hàng đã bắt đầu xuất hiện trạng thái thiếu vốn. Việc này mặc dù có thể chỉ là diễn biến cục bộ và không phải là bức tranh chung của toàn bộ hệ thống, thể hiện ở chỗ, đầu tháng 4/2024 vẫn có ngân hàng lớn thuộc nhóm Big 4 hạ lãi suất huy động. Tuy nhiên, khi dòng tiền trong ngân hàng có dấu hiệu co hẹp phần nào sẽ hạn chế khả năng bơm vốn ra nền kinh tế của toàn bộ hệ thống.

Đặc biệt, một số chuyên gia cho biết, hiện tại các ngân hàng cũng vẫn còn phải giữ tâm thái rất thận trọng trong khâu kiểm soát rủi ro và đây là yếu tố các ngân hàng đều phải cân nhắc trước bài toán “thả gà ra đuổi”. PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính thuộc Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, cho biết tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng đang tăng nhanh, tiến gần tới ngưỡng 3%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu lại có xu hướng giảm xuống dưới 100% thay vì luôn ở trên 100% như trước đây. Điều này cho thấy, các ngân hàng cũng sẽ phải chịu áp lực tăng trích lập dự phòng để bù đắp cho chỉ số an toàn tài chính đang có dấu hiệu sụt giảm.

Với bối cảnh hiện tại, tâm lý thận trọng của các ngân hàng là một diễn biến thực tế vẫn diễn ra gần đây. Trong cuộc họp về chính sách tiền tệ với Thủ tướng Chính phủ diễn ra giữa giữa tháng 3/2024, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN, cũng nhận định một số ngân hàng trong quy trình thủ tục cho vay vẫn “chậm được cải tiến”, nhất là thời gian xét duyệt cho vay còn dài, định giá và quyết định tài sản thế chấp còn quá thận trọng.

Trong khi đó, thời điểm hiện tại đã hơn 1/4 quãng thời gian của năm 2024 qua đi, trong khi con số tăng trưởng tín dụng sau 3 tháng đầu năm mới đạt 1,7% mục tiêu đề ra (3 tháng tăng trưởng đạt 0,26% trên chỉ tiêu tăng trưởng cả năm 15%). Ngay cả trường hợp các tháng còn lại đạt được tốc độ bình quân gần 1% như đã thực hiện trong tháng 3 thì 9 tháng còn lại tăng trưởng tín dụng cũng sẽ chỉ có thể ở mức khoảng dưới 10%.

Diễn biến này đang cho thấy các ngân hàng đang đứng trước “thế kẹt”. Một mặt tâm lý chung vẫn phải rất thận trọng đảm bảo an toàn cho từng khoản vay. Mặt khác vẫn phải trông đợi vào một yếu tố nào đó có tính “bùng nổ” trong giai đoạn còn lại mới có thể đạt được chỉ tiêu.

Chính phủ luôn đặt sự quan tâm đến việc thực thi chính sách tiền tệ

Thủ tướng Chính phủ đã ký Công điện số 18/CĐ-TTg ngày 5/3/2024 về điều hành tăng trưởng tín dụng năm 2024 và chủ trì Hội nghị triển khai nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ năm 2024 nhằm định hướng triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, đúng, trúng mục tiêu; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế.

Chí Tín

Đọc thêm

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 17,250
Kim TT/AVPL 16,940 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,500 15,700
Nguyên Liệu 99.9 15,450 15,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 17,020
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 16,970
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 16,950
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 17,250
Miếng SJC Nghệ An 16,950 17,250
Miếng SJC Thái Bình 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 17,200
NL 99.90 15,500
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530
Trang sức 99.9 16,390 17,090
Trang sức 99.99 16,400 17,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 17,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 17,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 172
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 168,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 128,038
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 116,102
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 104,165
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 99,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 71,256
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cập nhật: 08/04/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80