Ông Đỗ Quang Vinh được vinh danh là “Doanh nhân Châu Á xuất sắc ngành dịch vụ tài chính”

(TBTCO) - Ông Đỗ Quang Vinh - thành viên Hội đồng quản trại (HĐQT) kiêm Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), được vinh danh là “Doanh nhân châu Á xuất sắc ngành dịch vụ tài chính”. Đây là giải thưởng kinh doanh uy tín với quy mô lớn hàng đầu khu vực châu Á, do tổ chức phi chính phủ về doanh nghiệp Enterprise Asia trao tặng.
aa

Doanh nhân trẻ “dám nghĩ dám làm”

Theo học tại các trường đại học hàng đầu của Vương quốc Anh, tốt nghiệp cử nhân danh dự và thạc sĩ tài chính ngân hàng, doanh nhân Đỗ Quang Vinh có kiến thức, nền tảng sâu rộng trong linh vực tài chính. Đồng thời, ông Vinh có kinh nghiệm phong phú khi giữ nhiều vị trí quản lý chủ chốt tại các tập đoàn uy tín trong nước và toàn cầu: Tổng giám đốc Tập đoàn T&T Hoa Kỳ, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng thành viên Công ty Tài chính TNHH MTV Sài Gòn - Hà Nội (SHB FC); Chủ tịch HĐQT CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS); Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội (BSH).

Tại SHB, ông Vinh là thành viên HĐQT kiêm Phó Tổng giám đốc, phụ trách các khối nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng như: khối ngân hàng số, khối công nghệ thông tin và khối marketing & phát triển thương hiệu.

Ông Đỗ Quang Vinh được vinh danh là “Doanh nhân Châu Á xuất sắc ngành dịch vụ tài chính”
Ông Đỗ Quang Vinh (bên trái) - thành viên HĐQT kiêm Phó Tổng giám đốc SHB, được vinh danh là “Doanh nhân châu Á xuất sắc ngành dịch vụ tài chính”.

APEA đánh giá cao doanh nhân Đỗ Quang Vinh ở khả năng quản trị doanh nghiệp xuất sắc trong lĩnh vực tài chính. Với sự quyết đoán, dám nghĩ dám làm, không ngừng đổi mới và coi trọng phát triển con người, chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, từng bước thay đổi văn hóa doanh nghiệp, đặt lợi ích của khách hàng làm trọng tâm. Dù ở vị trí nào ông cũng khẳng định được thế mạnh của bản thân và đưa ra những quyết sách đúng đắn, góp phần tạo nên thành công cho tổ chức.

Điển hình như thương vụ ký kết thành công thỏa thuận chuyển nhượng 100% vốn tại SHB FC cho Ngân hàng TNHH Đại chúng Ayudhya (Krungsri) của Thái Lan - thành viên chiến lược thuộc Tập đoàn MUFG - Nhật Bản, đem lại nguồn thặng dư vốn đáng kể, cũng như nâng cao năng lực tài chính và vị thế của SHB, mở ra cơ hội phát triển mang tầm khu vực và vươn ra thế giới.

Tại SHS, dưới sự điều hành của Chủ tịch HĐQT Đỗ Quang Vinh, công ty đã trở thành Top 10 công ty chứng khoán có vốn điều lệ lớn nhất thị trường Việt Nam. Ở lĩnh vực bảo hiểm, với định hướng tăng trưởng bền vững gắn liền với hiệu quả, ông Vinh đã đưa BSH vào Top 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ uy tín nhất năm 2022, Top 25 công ty tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam với tốc độ tăng trưởng ấn tượng 13,4% (so với trung bình thị trường: 3,98%).

Với SHB, ông Vinh được giao nhiều trọng trách, đặc biệt là vai trò “vị thuyền trưởng” dẫn dắt chiến lược chuyển đổi số của ngân hàng. Ông là người đặt nền móng và phát triển khối ngân hàng số, chính thức đưa SHB bước vào cuộc đua số hóa ngân hàng và từng bước đạt được những thành công: Toàn bộ quy trình hoạt động của SHB đều được cải tiến mạnh mẽ nhờ công nghệ số, nâng cao hiệu quả công việc; công tác quản trị dữ liệu khách hàng cải thiện một cách rõ rệt; triển khai thành công nhiều sản phẩm số, gia tăng lợi ích và đem lại các trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng…

Đổi mới và khác biệt tạo nên giá trị

Hướng đến mục tiêu trở thành ngân hàng số 1 về hiệu quả và công nghệ, ngân hàng số được yêu thích nhất trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam vào năm 2027, ông Đỗ Quang Vinh đã có hướng đi riêng rất khác biệt. Với ông, chuyển đổi số là một hành trình đầu tư lâu dài, bền vững và “đọc vị” nhu cầu của khách hàng thông qua dữ liệu là mấu chốt để tạo ra những giá trị khác biệt trong các sản phẩm số của SHB.

Với hướng đi riêng biệt của mình, SHB đã “âm thầm” xây dựng một nền tảng số dựa trên chuỗi giá trị dành riêng cho khách hàng. Thay vì chỉ tập trung thấu hiểu nhu cầu hiện hữu của người dùng, SHB còn phân tích từng “nỗi trăn trở” của khách hàng trên hành trình trải nghiệm để giải quyết “khúc mắc” và xây dựng những giá trị riêng cho sản phẩm, dịch vụ của mình.

Bên cạnh đó, SHB đã và đang chú trọng triển khai xây dựng văn hóa doanh nghiệp số, tạo ra văn hóa và cách làm việc mới để xây dựng năng lực chuyển đổi số cho hệ thống. “Một nền văn hóa với cách làm việc, tư duy đổi mới có thể tăng cường đáng kể sự tương tác với khách hàng hiện hữu, cũng như tiếp cận khách hàng mới, đồng thời tạo ra hiệu quả vượt trội” - doanh nhân Đỗ Quang Vinh chia sẻ.

Dưới sự dẫn dắt, định hướng của ông, chỉ trong thời gian ngắn, SHB đã lần lượt triển khai thành công nhiều sản phẩm số hữu ích, nâng cao trải nghiệm của khách hàng như: mở tài khoản trực tuyến, phát hành thẻ tín dụng trực tuyến, vay thấu chi, vay cầm cố sổ tiết kiệm online… cùng các giải pháp tài chính đa dạng và nhiều ưu đãi vượt trội đi kèm.

Trước đó, với những thành tựu và đóng góp trong hoạt động chuyển đổi số tại SHB, doanh nhân Đỗ Quang Vinh đã vinh dự nhận giải thưởng “Doanh nhân vàng Việt Nam năm 2022”.

Được khởi xướng từ năm 2007, giải thưởng Asia Pacific Enterprise Awards (APEA) do Enterprise Asia trao tặng nhằm tôn vinh những doanh nghiệp, nhà lãnh đạo nổi bật, có nhiều đóng góp trong công tác xây dựng, quản lý và phát triển doanh nghiệp bền vững đồng thời tạo ra nhiều giá trị tốt đẹp cho cộng đồng.

Vượt qua nhiều vòng đánh giá với các tiêu chí khắt khe, phỏng vấn chuyên sâu và khảo sát độc lập doanh nghiệp, ông Đỗ Quang Vinh đã chinh phục Hội đồng Giám khảo bằng nền tảng kiến thức vững chắc trong ngành tài chính và những thành tựu kinh doanh ấn tượng tại các công ty, doanh nghiệp có sự dẫn dắt của ông.

Tài Tâm

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80