Quý I/2021: Mục tiêu tăng trưởng tín dụng 3 - 4% là khả thi

Diệu Thiện (thực hiện)
(TBTCVN) - Trong 2 tháng đầu năm 2021, nhiều chỉ số về kinh tế vĩ mô có những tín hiệu khởi sắc, bất chấp những khó khăn do sự tái bùng phát của dịch Covid-19. Với tín hiệu tích cực đó, dự báo tăng trưởng tín dụng quý I của hệ thống ngân hàng có thể đạt 3 – 4% như chỉ tiêu đã được giao.
aa

nh

Dịch bệnh được kiểm soát, các ngành sản xuất sẽ cần nhiều vốn để phục hồi và tăng trưởng, do đó tín dụng cũng sẽ mở rộng.

Đây là nhận định của PGS.TS Đỗ Hoài Linh – Viện Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân trong cuộc trao đổi với phóng viên TBTCVN.

PV: Thưa bà, số liệu của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, 2 tháng đầu năm, nhiều chỉ số về kinh tế vĩ mô đã có những tín hiệu khởi sắc, điều này liệu có thể kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ lạc quan ngay từ quý I/2021?

Bà Đỗ Hoài Linh: Ngân hàng (NH) là trung gian tài chính, hoạt động NH liên quan mật thiết với mọi biến động của doanh nghiệp (DN), cá nhân trong nền kinh tế. Vì vậy, tăng trưởng tín dụng NH chỉ có thể đạt được khi nền kinh tế có nhu cầu và có khả năng hấp thụ những dòng vốn tín dụng đó.

11

Bà Đỗ Hoài Linh

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, dù đợt tái bùng phát dịch Covid-19 xảy ra ngay trước Tết Nguyên đán, nhưng kinh tế 2 tháng đầu năm 2021 vẫn diến biến rất tích cực. Cụ thể, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 7,4% so với cùng kỳ năm ngoái, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 5,49%, số DN đăng ký thành lập mới trong tháng 2 đạt trên 8.000 DN, cao hơn so với mức trung bình khoảng 7.300 DN trong các tháng Tết giai đoạn 2016 – 2020, xuất nhập khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm xuất siêu 1,29 tỷ USD… Các chỉ số trên báo hiệu những tín hiệu khởi sắc nhiều lạc quan cho nền kinh tế Việt Nam cả năm 2021.

Cùng với đó là những tín hiệu khả quan như việc vắc-xin phòng Covid-19 đã được đưa vào cung cấp, kênh huy động vốn của DN có dấu hiệu chuyển dịch từ trái phiếu DN sang tín dụng NH và mảng tín dụng tiêu dùng cũng đang dần phục hồi… Với tất cả những yếu tố trên, tôi cho rằng, tăng trưởng tín dụng quý I/2021 có thể đạt được ở mức 3 – 4% như chỉ tiêu NH Nhà nước (NHNN) đã giao.

Nếu những diễn biến tích cực này vẫn được duy trì trên cả hai phương diện là phòng chống dịch hiệu quả và duy trì tăng trưởng kinh tế, thì các quý cuối năm 2021 tăng trưởng tín dụng theo tôi sẽ cao hơn mức mục tiêu bình quân 3 - 4%/quý mà NHNN đã đặt ra, vì quy luật tăng mạnh nhu cầu vay vốn của DN và cá nhân trong các tháng cuối năm sẽ không là ngoại lệ với năm 2021. Theo đó, tôi cho rằng, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống năm 2021 có thể đạt 13 – 14%, cao hơn mục tiêu 12% mà NHNN đã đặt ra.

PV: Theo một kết quả điều tra từ các tổ chức tín dụng của NHNN công bố hồi tháng 12/2020, dự kiến 6 tháng đầu năm 2021 và cả năm 2021, các tổ chức tín dụng sẽ “nới lỏng nhẹ” tiêu chuẩn tín dụng đối với một số nhóm khách hàng (như nhóm DN nhỏ và vừa, khách hàng các lĩnh vựu ưu tiên). Bà đánh giá như thế nào về động thái này của các NH?

Bà Đỗ Hoài Linh: Theo số liệu thống kê, trong tổng số khoảng 750 nghìn DN đang hoạt động thì có đến hơn 60% là DN có quy mô siêu nhỏ, với đặc điểm chủ yếu là năng lực quản lý điều hành hạn chế, trang thiết bị lạc hậu, vốn và nhân lực cho việc áp dụng khoa học công nghệ còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến năng suất và chất lượng chưa cao. Do vậy, kênh dẫn vốn chủ yếu của nhóm đối tượng này vẫn là tín dụng NH, 2 kênh dẫn vốn còn lại là cổ phiếu và trái phiếu rất khó tiếp cận với nhóm DN này. Vì thế, việc các NH “nới lỏng nhẹ” tiêu chuẩn tín dụng với những nhóm khách hàng trong lĩnh vực ưu tiên, khách hàng DN vừa và nhỏ trong bối cảnh khó khăn do dịch bệnh hiện nay là điều tất yếu phải làm.

Tuy nhiên, nguồn vốn mà NH cấp tín dụng bản chất đến từ tiền gửi của khách hàng nên NH không thể thoải mái nới lỏng các quy định chặt chẽ trong hoạt động cấp tín dụng, NH có nhiệm vụ phải bảo đảm những đồng vốn cho vay ra đáp ứng được 3 tiêu chí là an toàn, khả thi và sinh lời. Do đó, chúng ta phải hiểu đây không phải là nới lỏng toàn bộ các quy định trong hoạt động cho vay, mà sẽ là giảm thắt chặt một số tiêu chuẩn hoặc thủ tục, đặc biệt là các tiêu chuẩn tài sản bảo đảm, từ đó tăng khả năng tiếp cận vốn vay với những khách hàng có khả năng sử dụng đồng vốn vay vào sản xuất kinh doanh và có khả năng trả nợ cho NH.

PV: Về mặt bằng lãi suất, bà dự báo như thế nào trong năm 2021?

Bà Đỗ Hoài Linh: Lãi suất là giá cả của vốn, thể hiện mối quan hệ giữa cung - cầu về vốn trên thị trường. Hiện tại thanh khoản của toàn thị trường khá dồi dào cho thấy nguồn cung vốn đang dư thừa, cùng với đó là các chính sách nới lỏng về tài khóa và tiền tệ để phục hồi nền kinh tế sẽ dẫn đến lãi suất đầu vào và đầu ra giảm là tất yếu. Ngoài ra, các mức lãi suất điều hành, lãi suất trên thị trường liên NH cũng ghi nhận mức giảm đáng kể.

Do đó theo tôi, xu hướng giảm sẽ diễn ra trong cả năm 2021, tuy nhiên mức độ giảm tại những thời điểm khác nhau cũng khác nhau, vì nó sẽ phụ thuộc vào các yếu tố tác động tới lực cung - cầu về vốn trên thị trường. Dự báo, trong năm 2021 mức độ giảm của mặt bằng lãi suất sẽ không cao như trong năm 2020.

PV: Xin cảm ơn bà!

Giám sát để dòng vốn nới lỏng chảy vào đúng chỗ

Theo bà Đỗ Hoài Linh, năm 2020 có sự bùng nổ tham gia vào thị trường chứng khoán với dòng vốn lớn của các nhà đầu tư cũ và mới, đặc biệt khi tăng trưởng tín dụng lớn hơn 2,5 lần tỷ lệ tăng trưởng GDP thì những quan ngại về việc một phần dòng vốn tín dụng đã được chảy vào các khu vực phi sản xuất trong đó có chứng khoán, bất động sản… là hoàn toàn có cơ sở. Do đó, để bảm đảm việc nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng thực sự đạt được mục tiêu hỗ trợ nền kinh tế, doanh nghiệp phục hồi, các cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo các ngân hàng cần phải giám sát và can thiệp kịp thời để những dòng vốn nới lỏng được chảy vào đúng chỗ, hạn chế khả năng tạo “bong bóng” chứng khoán, bất động sản.

Diệu Thiện (thực hiện)

Diệu Thiện (thực hiện)

Đọc thêm

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Kim TT/AVPL 16,870 ▲10K 17,170 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲100K 16,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Hà Nội - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Miền Tây - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,350 ▲60K 17,050 ▲60K
Trang sức 99.99 16,360 ▲60K 17,060 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 ▲1K 17,162 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 ▲1K 17,163 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 ▲1K 1,714 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 ▲1K 1,715 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 ▲1K 1,699 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 ▲99K 168,218 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 ▲75K 127,588 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 ▲68K 115,694 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 ▲61K 103,799 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 ▲59K 99,212 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 ▲41K 71,005 ▲41K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cập nhật: 27/03/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17623 17896 18472
CAD 18476 18753 19372
CHF 32374 32757 33403
CNY 0 3470 3830
EUR 29705 29977 31007
GBP 34242 34633 35570
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14880 15469
SGD 19922 20204 20733
THB 716 779 833
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80