Sức ép tỷ giá gia tăng từ biến động lãi suất quốc tế

Chí Tín
(TBTCO) - Động thái tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) thời gian qua và dự kiến tiếp tục tăng thời gian tới đang gây áp lực lớn lên tỷ giá các nước khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể bán bớt ngoại tệ từ nguồn dự trữ ngoại hối đang khá dồi dào để ổn định tỷ giá, đồng thời cán cân thương mại xuất siêu trong nửa đầu năm 2022 cũng giúp giải tỏa một phần sức ép về tỷ giá của đồng Việt Nam so với USD.
aa

Tỷ giá trong nước chưa nhiều đột biến

Ngày 4/7 vừa qua, tỷ giá USD tham khảo của Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh tăng 150 đồng/USD ở chiều bán ra sau một thời gian dài giữ cố định, ghi nhận mức 23.400 đồng/USD.

Đây là lần thứ 2 trong năm 2022, Sở giao dịch NHNN điều chỉnh tăng tỷ giá tham khảo ở chiều bán ra, lần tăng trước đó vào ngày 11/5 với mức tăng tỷ giá tham khảo bán ra thêm 200 đồng/USD, từ 23.050 đồng/USD lên 23.250 đồng/USD. Tuy nhiên, trong cả 2 lần điều chỉnh tỷ giá tham khảo gần đây, Sở giao dịch NHNN Việt Nam đều chỉ điều chỉnh tỷ giá tham khảo bán ra trong khi vẫn giữ cố định tỷ giá tham khảo mua vào ở mức 22.550 đồng/USD. Theo đó, mức chênh lệch tỷ giá tham khảo bán ra so với mua vào hiện nay đã tăng lên 850 đồng/USD, thay vì mức chênh lệch chỉ 500 đồng/USD hồi đầu năm.

Mặc dù diễn biến tỷ giá tham khảo của Sở giao dịch NHNN điều chỉnh tăng 2 lần và khoảng cách giá mua vào và bán ra đang có xu hướng giãn rộng ra, nhưng tỷ giá trung tâm không cho thấy xu hướng tăng rõ ràng.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn duy trì quan điểm điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường trong và ngoài nước.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn duy trì quan điểm điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường trong và ngoài nước.

Khác với tỷ giá tham khảo thường được Sở giao dịch NHNN giữ cố định trong một khoảng thời gian dài và ít khi điều chỉnh, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố hàng ngày. Nhìn lại thời điểm đầu năm 2021, tỷ giá trung tâm phiên đầu tiên năm 2021 ghi nhận là 23.143 đồng/USD và phiên ngày 4/7 là 23.144 đồng/USD. Theo đó, tỷ giá trung tâm mặc dù có những giai đoạn tăng cao, lên trên 23.160 đồng/USD vào khoảng giữa tháng 5/2022, nhưng đến thời điểm hiện nay vẫn chỉ xấp xỉ mặt bằng so với đầu năm.

Đó là diễn biến tỷ giá do NHNN công bố, trong khi đó, diễn biến tỷ giá của ngân hàng thương mại có động thái tăng thời gian qua. Chẳng hạn, tỷ giá công bố của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) thời điểm đầu năm 2022 ghi nhận các mức giá mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra lần lượt là 22.610/22.640/22.920 đồng/USD, nhưng đến nay đã nhích lên mức 23.180/23.210/23.490 đồng/USD.

Tỷ giá chịu áp lực tăng, nhưng không lớn

Các chuyên gia cho rằng, tỷ giá đang chịu sức ép từ động thái thắt chặt tiền tệ, cụ thể là tăng lãi suất của FED.

Cụ thể giữa tháng 6/2022 vừa qua, FED tăng lãi suất cơ bản thêm 0,75 điểm phần trăm. Đây cũng là lần tăng lãi suất lớn nhất của FED trong vòng gần 30 năm qua, kể từ năm 1994. Thậm chí, FED có thể tiếp tục thực hiện các đợt tăng lãi suất tiếp theo vào cuối tháng 7.

Theo trao đổi của một số chuyên gia tài chính, việc tăng lãi suất của FED có thể sẽ làm cho đồng USD tăng giá so với các đồng tiền của quốc gia khác. Thực tế cho thấy, đồng USD đã tăng giá so với rất đồng tiền chủ chốt ở khu vực châu Á như Nhân dân tệ của Trung Quốc, Won Hàn Quốc, Bath Thái Lan, Yên Nhật Bản… Ngay cả đồng tiền mạnh như Euro trước đây giá cao hơn khá nhiều so với USD nhưng cũng đã mất giá khá mạnh thời gian qua và hiện giờ giá 2 đồng tiền này xấp xỉ nhau.

Tuy nhiên theo đánh giá của ông Phạm Chí Quang - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách tiền tệ thuộc NHNN Việt Nam, NHNN Việt Nam vẫn giữ quan điểm điều hành tỷ giá ổn định nên tỷ giá đồng Việt Nam không biến động nhiều so với USD.

Diễn biến kinh tế vĩ mô thời gian gần đây cũng cho thấy, một trong những yếu tố giúp giảm áp lực với tỷ giá là Việt Nam vẫn duy trì cán cân thương mại thặng dư. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, riêng tháng 6/2022, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 32,65 tỷ USD còn tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa là 32,37 tỷ USD, theo đó tháng 6 xuất siêu 280 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 710 triệu USD. Ngoài ra, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục gia tăng cũng là một trong những yếu tố “giảm tải” cho sức ép đối với tỷ giá. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 6 tháng đầu năm 2022 đạt 10,06 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm qua.

Ngoài ra theo đánh giá của một số chuyên gia, việc giữ giá đồng nội tệ cố định so với USD cũng không thực sự cần thiết vì khi đó, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ trở nên đắt đỏ, khó cạnh tranh hơn so với các nước khác. TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Tài chính thuộc Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, trong trường hợp này, NHNN nên hết sức khéo léo trong điều hành tỷ giá, làm sao để đồng Việt Nam không bị mất giá quá mạnh, nhưng vẫn có sự giảm giá ở mức độ phù hợp để duy trì vị thế xuất khẩu.

Có thể tăng tần suất bán ngoại tệ để duy trì ổn định thị trường

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết vẫn duy trì quan điểm điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường trong và ngoài nước. Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ tăng tần suất bán can thiệp ngoại tệ để sẵn sàng bổ sung nguồn cung ngoại tệ cho thị trường thường xuyên hơn nữa, qua đó tạo điều kiện cho hệ thống tổ chức tín dụng đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Trong đó, có nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất kinh doanh trong nước và xuất khẩu, qua đó góp phần bình ổn thị trường và hỗ trợ phục hồi kinh tế.

Chí Tín

Đọc thêm

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30