Tạo điều kiện cho Chính phủ điều hành ngân sách linh hoạt, kịp thời

Hoàng Yến
(TBTCO) - Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, tạo sự chủ động, linh hoạt cho các cấp trong điều hành ngân sách phù hợp, đáp ứng các yêu cầu của việc sắp xếp bộ máy, điều chỉnh địa giới hành chính…
aa
Tạo điều kiện cho Chính phủ điều hành ngân sách linh hoạt, kịp thời
Nguồn: Bộ Tài chính Đồ họa: Phương Anh

Chiều 17/5, thảo luận về dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đánh giá, dự thảo Luật đã có những quy định giúp đổi mới và rút ngắn quy trình phân bổ, quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN); bảo đảm tăng cường kỷ luật tài chính, công khai, minh bạch thu, chi ngân sách, phù hợp với chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phù hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

Tăng tính chủ động cho địa phương trong quản lý, sử dụng nguồn lực

Khẳng định đây là dự án Luật rất quan trọng, tác động trực tiếp đến vấn đề quản lý, phân bổ nguồn lực của cả hệ thống chính trị, các đại biểu cũng đóng góp nhiều ý kiến tập trung các vấn đề về phân cấp nguồn thu của ngân sách Trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP); phân bổ và giao dự toán ngân sách; tỷ lệ vay nợ của địa phương…

Cho phép ngân sách các cấp được ứng trước dự toán

Khoản 1 Điều 56 dự thảo Luật quy định cho phép ngân sách các cấp được ứng trước dự toán ngân sách năm sau để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án quan trọng, cấp bách, nhiệm vụ chi quan trọng về quốc phòng, an ninh đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Mức ứng trước không vượt quá 30% tổng dự toán chi của chương trình, nhiệm vụ, dự án.

Dẫn thực tế có tình trạng đầu năm đủng đỉnh, cuối năm gấp rút tiêu tiền, đại biểu Trần Văn Lâm cho rằng, việc ứng trước dự toán ngân sách năm sau có thể giải quyết được tình trạng này. “Nên tạo điều kiện cho Chính phủ linh hoạt trong điều hành. Nếu không điều chỉnh được dự toán thì cần cho phép ứng trước ở quy mô nhỏ, phạm vi nhỏ, để tránh lạm dụng”, đại biểu đề nghị.

Phát biểu tại tổ, Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, Kết luận số 93-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ NSNN để bảo đảm vai trò chủ đạo của NSTW và chủ động của NSĐP đã định hướng đến năm 2030, NSTW là chủ đạo chiếm khoảng 58 - 60% tổng ngân sách, NSĐP là chủ động và chiếm phần còn lại. Điều này nhằm tăng tính chủ động của địa phương trong quản lý và sử dụng nguồn lực.

Với tinh thần đó, việc phân chia tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại dự thảo đang định hướng theo tỷ lệ là 80% - 20% hoặc tỷ lệ 70% - 30%. Những địa phương có nguồn thu tự cân đối được thì được giữ lại 70%, đối với những địa phương khó khăn được giữ lại 80% và thậm chí có những địa phương có thể lên đến 90%, chẳng hạn như những địa phương rất khó khăn, để có thêm nguồn cho các địa phương chủ động.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, cần có cơ chế phân chia tỷ lệ nguồn thu hợp lý, hài hòa để bảo đảm cân đối. Bên cạnh đó, các địa phương cũng cần chia sẻ với Trung ương, bởi nếu không, NSTW không có khả năng để đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án lớn cũng như các dự án kết nối vùng trong thời gian tới như đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao…

Cơ bản đồng tình với việc phân cấp nguồn thu giữa NSTW và NSĐP quy định tại Điều 35 của dự thảo Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh cũng lưu ý việc phân cấp, phân quyền cần quan tâm đến một số vấn đề liên quan đến an ninh tài chính quốc gia, tiền tệ, những vấn đề cốt lõi thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp…

Về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Trúc Sơn (đoàn Bến Tre) cho rằng, cần tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương trong quản lý ngân sách, đặc biệt là các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đại biểu đề xuất, Chính phủ quy định tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa trung ương và địa phương sao cho phù hợp với từng nhóm địa phương.

Để tạo điều kiện cho địa phương đầu tư phát triển, đại biểu bày tỏ đồng tình với quy định tại khoản 6 Điều 7 của dự thảo Luật về nâng mức hạn vay nợ của địa phương lên 120% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp để tạo điều kiện cho địa phương đầu tư phát triển.

Cùng với đó, đại biểu cho rằng, cần có chính sách, giải pháp đột phá để các địa phương không phải liên tục xin Trung ương hỗ trợ. Đại biểu kiến nghị tăng tỷ lệ chi đầu tư phát triển, chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng tỷ lệ chi cho y tế ngang bằng với tỷ lệ chi cho giáo dục.

Tạo sự linh hoạt cho cơ quan điều hành

Tuy nhiên, đại biểu Trần Văn Lâm (Bắc Giang) đề nghị cân nhắc về quy định nâng mức hạn vay nợ của địa phương lên 120%. Theo đại biểu, thực tế chính sách nâng mức dư nợ vay của NSĐP đã được thực hiện thí điểm tại một số địa phương. Lần này, chính sách thí điểm đã được đưa vào trong Luật, nhằm giúp các địa phương chủ động thực hiện dự án lớn trên địa bàn.

Dù mục tiêu này là hợp lý, song đại biểu cho biết, thực tế ngay tại các địa phương được áp dụng thí điểm chính sách này cũng không sử dụng hết mức được giao, thậm chí chỉ khoảng 20 – 30%.

Mặt khác, nước ta đang triển khai một loạt công trình, dự án lớn, chắc chắn phải đi vay, mà tổng số nợ vay được Quốc hội khống chế ở một mức trần. Nếu tăng trần nợ vay cho địa phương thì trần nợ vay của Trung ương sẽ ít đi, dẫn đến sẽ không có nguồn lực cho các công trình quốc gia, trong khi nguồn lực lại phân tán vào các công trình nhỏ hơn ở cấp địa phương. Từ đó, đại biểu đề nghị cần có đánh giá, tổng kết việc thí điểm chính sách này trước khi đưa vào sửa Luật.

Liên quan điều chỉnh dự toán NSNN, dự thảo Luật dự kiến phân cấp cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh dự toán, hiện thuộc thẩm quyền Quốc hội.

Theo đại biểu Trần Văn Lâm, việc điều chỉnh ngân sách rất phức tạp, đòi hỏi dự toán phải chính xác, không được sơ sài. Song, thực tế dự toán vẫn còn bất cập nên thường xuyên được đề xuất điều chỉnh, cần phải khắc phục tình trạng này. Mặt khác, dự toán chỉ là dự báo, trong khi bối cảnh đầu năm và cuối năm có sự khác nhau. Do đó, đại biểu đồng tình rằng thực tiễn hiện nay đòi hỏi có sự linh hoạt nhất định cho cơ quan điều hành.

Tuy vậy, để có sự dung hòa, đại biểu đề xuất Thủ tướng điều chỉnh song chỉ ở mức độ, điều kiện nhất định, vượt qua mức đó thì phải Quốc hội điều chỉnh. Điều này sẽ bảo đảm sự linh hoạt, không để tình trạng dù điều chỉnh một đồng cũng phải đưa lên Quốc hội, đại biểu đề nghị.

Về thời gian điều chỉnh dự toán, khoản 3, Điều 52 dự thảo Luật điều chỉnh thời gian điều chỉnh dự toán trước ngày 15/11 năm hiện hành thành 15/12 năm hiện hành. Tán thành sự thay đổi này, song đại biểu lưu ý, cơ quan đề xuất điều chỉnh phải cam kết và chịu trách nhiệm về số dự toán điều chỉnh tăng thêm phải được sử dụng, chứ không phải là điều chỉnh xong lại để đó.

Cắt giảm, đơn giản hóa nhiều quy trình, thủ tục về công tác ngân sách

Trước đó, chiều 14/5, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đã trình bày trước Quốc hội tờ trình về dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi).

Theo dự thảo, trong công tác xây dựng dự toán, nhiều thủ tục đã được cắt giảm và đơn giản hóa. Cụ thể như: Quy trình xây dựng và thông báo số kiểm tra thu, chi ngân sách hằng năm, dự kiến thu, chi ngân sách 2 năm tiếp theo; quy trình xây dựng và báo cáo kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm; trình tự và yêu cầu lập dự toán chi…

Đối với quá trình quyết toán NSNN, dự thảo đã đơn giản hóa và giảm thủ tục về quy trình kiểm tra và nội dung, thủ tục xét duyệt quyết toán của cơ quan tài chính và đơn vị dự toán cấp I. Đồng thời, bỏ thủ tục thẩm định quyết toán của cơ quan tài chính cấp trên đối với ngân sách cấp dưới trực tiếp ở địa phương.

Đặc biệt, dự thảo đã sửa đổi, bổ sung về căn cứ lập dự toán NSNN để đảm bảo bao quát đầy đủ các nguồn thu và sửa đổi, bổ sung làm rõ yêu cầu lập dự toán chi thường xuyên.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80