Tạo điều kiện cho Chính phủ điều hành ngân sách linh hoạt, kịp thời

Hoàng Yến
(TBTCO) - Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, tạo sự chủ động, linh hoạt cho các cấp trong điều hành ngân sách phù hợp, đáp ứng các yêu cầu của việc sắp xếp bộ máy, điều chỉnh địa giới hành chính…
aa
Tạo điều kiện cho Chính phủ điều hành ngân sách linh hoạt, kịp thời
Nguồn: Bộ Tài chính Đồ họa: Phương Anh

Chiều 17/5, thảo luận về dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đánh giá, dự thảo Luật đã có những quy định giúp đổi mới và rút ngắn quy trình phân bổ, quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN); bảo đảm tăng cường kỷ luật tài chính, công khai, minh bạch thu, chi ngân sách, phù hợp với chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phù hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

Tăng tính chủ động cho địa phương trong quản lý, sử dụng nguồn lực

Khẳng định đây là dự án Luật rất quan trọng, tác động trực tiếp đến vấn đề quản lý, phân bổ nguồn lực của cả hệ thống chính trị, các đại biểu cũng đóng góp nhiều ý kiến tập trung các vấn đề về phân cấp nguồn thu của ngân sách Trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP); phân bổ và giao dự toán ngân sách; tỷ lệ vay nợ của địa phương…

Cho phép ngân sách các cấp được ứng trước dự toán

Khoản 1 Điều 56 dự thảo Luật quy định cho phép ngân sách các cấp được ứng trước dự toán ngân sách năm sau để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án quan trọng, cấp bách, nhiệm vụ chi quan trọng về quốc phòng, an ninh đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Mức ứng trước không vượt quá 30% tổng dự toán chi của chương trình, nhiệm vụ, dự án.

Dẫn thực tế có tình trạng đầu năm đủng đỉnh, cuối năm gấp rút tiêu tiền, đại biểu Trần Văn Lâm cho rằng, việc ứng trước dự toán ngân sách năm sau có thể giải quyết được tình trạng này. “Nên tạo điều kiện cho Chính phủ linh hoạt trong điều hành. Nếu không điều chỉnh được dự toán thì cần cho phép ứng trước ở quy mô nhỏ, phạm vi nhỏ, để tránh lạm dụng”, đại biểu đề nghị.

Phát biểu tại tổ, Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, Kết luận số 93-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ NSNN để bảo đảm vai trò chủ đạo của NSTW và chủ động của NSĐP đã định hướng đến năm 2030, NSTW là chủ đạo chiếm khoảng 58 - 60% tổng ngân sách, NSĐP là chủ động và chiếm phần còn lại. Điều này nhằm tăng tính chủ động của địa phương trong quản lý và sử dụng nguồn lực.

Với tinh thần đó, việc phân chia tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại dự thảo đang định hướng theo tỷ lệ là 80% - 20% hoặc tỷ lệ 70% - 30%. Những địa phương có nguồn thu tự cân đối được thì được giữ lại 70%, đối với những địa phương khó khăn được giữ lại 80% và thậm chí có những địa phương có thể lên đến 90%, chẳng hạn như những địa phương rất khó khăn, để có thêm nguồn cho các địa phương chủ động.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, cần có cơ chế phân chia tỷ lệ nguồn thu hợp lý, hài hòa để bảo đảm cân đối. Bên cạnh đó, các địa phương cũng cần chia sẻ với Trung ương, bởi nếu không, NSTW không có khả năng để đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án lớn cũng như các dự án kết nối vùng trong thời gian tới như đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao…

Cơ bản đồng tình với việc phân cấp nguồn thu giữa NSTW và NSĐP quy định tại Điều 35 của dự thảo Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh cũng lưu ý việc phân cấp, phân quyền cần quan tâm đến một số vấn đề liên quan đến an ninh tài chính quốc gia, tiền tệ, những vấn đề cốt lõi thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp…

Về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Trúc Sơn (đoàn Bến Tre) cho rằng, cần tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương trong quản lý ngân sách, đặc biệt là các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đại biểu đề xuất, Chính phủ quy định tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa trung ương và địa phương sao cho phù hợp với từng nhóm địa phương.

Để tạo điều kiện cho địa phương đầu tư phát triển, đại biểu bày tỏ đồng tình với quy định tại khoản 6 Điều 7 của dự thảo Luật về nâng mức hạn vay nợ của địa phương lên 120% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp để tạo điều kiện cho địa phương đầu tư phát triển.

Cùng với đó, đại biểu cho rằng, cần có chính sách, giải pháp đột phá để các địa phương không phải liên tục xin Trung ương hỗ trợ. Đại biểu kiến nghị tăng tỷ lệ chi đầu tư phát triển, chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng tỷ lệ chi cho y tế ngang bằng với tỷ lệ chi cho giáo dục.

Tạo sự linh hoạt cho cơ quan điều hành

Tuy nhiên, đại biểu Trần Văn Lâm (Bắc Giang) đề nghị cân nhắc về quy định nâng mức hạn vay nợ của địa phương lên 120%. Theo đại biểu, thực tế chính sách nâng mức dư nợ vay của NSĐP đã được thực hiện thí điểm tại một số địa phương. Lần này, chính sách thí điểm đã được đưa vào trong Luật, nhằm giúp các địa phương chủ động thực hiện dự án lớn trên địa bàn.

Dù mục tiêu này là hợp lý, song đại biểu cho biết, thực tế ngay tại các địa phương được áp dụng thí điểm chính sách này cũng không sử dụng hết mức được giao, thậm chí chỉ khoảng 20 – 30%.

Mặt khác, nước ta đang triển khai một loạt công trình, dự án lớn, chắc chắn phải đi vay, mà tổng số nợ vay được Quốc hội khống chế ở một mức trần. Nếu tăng trần nợ vay cho địa phương thì trần nợ vay của Trung ương sẽ ít đi, dẫn đến sẽ không có nguồn lực cho các công trình quốc gia, trong khi nguồn lực lại phân tán vào các công trình nhỏ hơn ở cấp địa phương. Từ đó, đại biểu đề nghị cần có đánh giá, tổng kết việc thí điểm chính sách này trước khi đưa vào sửa Luật.

Liên quan điều chỉnh dự toán NSNN, dự thảo Luật dự kiến phân cấp cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh dự toán, hiện thuộc thẩm quyền Quốc hội.

Theo đại biểu Trần Văn Lâm, việc điều chỉnh ngân sách rất phức tạp, đòi hỏi dự toán phải chính xác, không được sơ sài. Song, thực tế dự toán vẫn còn bất cập nên thường xuyên được đề xuất điều chỉnh, cần phải khắc phục tình trạng này. Mặt khác, dự toán chỉ là dự báo, trong khi bối cảnh đầu năm và cuối năm có sự khác nhau. Do đó, đại biểu đồng tình rằng thực tiễn hiện nay đòi hỏi có sự linh hoạt nhất định cho cơ quan điều hành.

Tuy vậy, để có sự dung hòa, đại biểu đề xuất Thủ tướng điều chỉnh song chỉ ở mức độ, điều kiện nhất định, vượt qua mức đó thì phải Quốc hội điều chỉnh. Điều này sẽ bảo đảm sự linh hoạt, không để tình trạng dù điều chỉnh một đồng cũng phải đưa lên Quốc hội, đại biểu đề nghị.

Về thời gian điều chỉnh dự toán, khoản 3, Điều 52 dự thảo Luật điều chỉnh thời gian điều chỉnh dự toán trước ngày 15/11 năm hiện hành thành 15/12 năm hiện hành. Tán thành sự thay đổi này, song đại biểu lưu ý, cơ quan đề xuất điều chỉnh phải cam kết và chịu trách nhiệm về số dự toán điều chỉnh tăng thêm phải được sử dụng, chứ không phải là điều chỉnh xong lại để đó.

Cắt giảm, đơn giản hóa nhiều quy trình, thủ tục về công tác ngân sách

Trước đó, chiều 14/5, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đã trình bày trước Quốc hội tờ trình về dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi).

Theo dự thảo, trong công tác xây dựng dự toán, nhiều thủ tục đã được cắt giảm và đơn giản hóa. Cụ thể như: Quy trình xây dựng và thông báo số kiểm tra thu, chi ngân sách hằng năm, dự kiến thu, chi ngân sách 2 năm tiếp theo; quy trình xây dựng và báo cáo kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm; trình tự và yêu cầu lập dự toán chi…

Đối với quá trình quyết toán NSNN, dự thảo đã đơn giản hóa và giảm thủ tục về quy trình kiểm tra và nội dung, thủ tục xét duyệt quyết toán của cơ quan tài chính và đơn vị dự toán cấp I. Đồng thời, bỏ thủ tục thẩm định quyết toán của cơ quan tài chính cấp trên đối với ngân sách cấp dưới trực tiếp ở địa phương.

Đặc biệt, dự thảo đã sửa đổi, bổ sung về căn cứ lập dự toán NSNN để đảm bảo bao quát đầy đủ các nguồn thu và sửa đổi, bổ sung làm rõ yêu cầu lập dự toán chi thường xuyên.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80