Tập đoàn Bảo Việt: Năm 2021, lợi nhuận sau thuế hợp nhất tăng trưởng 21,4%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh năm 2021 (kiểm toán), theo đó Tập đoàn Bảo Việt (mã chứng khoán BVH) và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan, với tổng doanh thu hợp nhất đạt 50.380 tỷ đồng, tăng 2,8% so với năm 2020.
aa
Tập đoàn Bảo Việt: Năm 2021, lợi nhuận sau thuế hợp nhất tăng trưởng 21,4%
Tập đoàn Bảo Việt: Năm 2021, lợi nhuận sau thuế hợp nhất tăng trưởng 21,4%. Ảnh: T.L

Bảo Việt hiện là doanh nghiệp có quy mô tài sản hàng đầu trên thị trường bảo hiểm, đạt gần 170.000 tỷ đồng, tương đương hơn 7 tỷ USD. Tổng doanh thu hợp nhất năm 2021 đạt 50.380 tỷ đồng, tăng 2,8% so với năm 2020; lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 2.003 tỷ đồng, tăng 21,4% so với năm 2020.

Tổng doanh thu công ty mẹ đạt 1.490 tỷ đồng, tăng trưởng 5,7% so với năm 2020. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.031 tỷ đồng, tăng 1,9% và hoàn thành kế hoạch đại hội đồng cổ đông phê duyệt. Tổng tài sản công ty mẹ năm 2021 đạt 18.908 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu đạt 18.519 tỷ đồng.

Tập đoàn Bảo Việt đã chi trả cổ tức 667 tỷ đồng bằng tiền mặt trong năm 2021, nâng tổng số tiền chi trả cổ tức cho cổ đông BVH từ khi cổ phần hóa (năm 2007) đến nay lên tới gần 9.500 tỷ đồng tiền mặt. Tính từ khi cổ phần hóa đến nay, tổng số tiền Bảo Việt đã nộp vào ngân sách nhà nước lên đến gần 24.000 tỷ đồng. Với tiềm lực tài chính mạnh, quy mô vốn và tài sản hàng đầu trong các doanh nghiệp bảo hiểm, Bảo Việt luôn thực hiện các cam kết với cổ đông, gia tăng giá trị cho nhà đầu tư.

Năm 2021, dịch Covid-19 tại Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp, giãn cách xã hội ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, Tập đoàn Bảo Việt đã đồng hành cùng người dân trên cả nước chia sẻ gánh nặng tài chính trong cuộc sống và thực hiện đúng cam kết, gánh vác trách nhiệm với cộng đồng để cùng chung tay “Bảo đảm sự bình an, thịnh vượng và lợi ích lâu dài cho khách hàng, nhà đầu tư, người lao động và cộng đồng”.

Thể hiện tinh thần tiên phong trong chuyển đổi số của một tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam, Bảo Việt tăng cường đầu tư và củng cố nền tảng công nghệ thông tin hiện đại đáp ứng tốt hơn nhu cầu kinh doanh của toàn hệ thống; tập trung mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, triển khai nghiên cứu ra mắt chuỗi sản phẩm tích hợp đa dạng và ưu đãi vượt trội cho khách hàng, thể hiện vai trò doanh nghiệp dẫn đầu thị trường.

Theo đó, năm 2021 Bảo Việt Nhân thọ đạt tổng doanh thu đạt 37.848 tỷ đồng, tăng trưởng 4,6% trong đó tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 30.562 tỷ đồng, tăng trưởng 9% so với năm 2020, tiếp tục giữ vững ngôi vị số 1 thị trường về tổng doanh thu phí bảo hiểm.

Để đáp ứng nhu cầu bảo vệ sức khỏe và tài chính của người dân, Bảo Việt Nhân thọ đã liên tục nghiên cứu và triển khai những sản phẩm ngày càng ưu việt. Đầu năm 2022, Bảo Việt ra mắt sản phẩm "An Vui Sống Khỏe" chăm sóc y tế toàn diện với mức bảo vệ lên đến 1 tỷ đồng/năm, bao gồm: quyền lợi nội trú, ngoại trú, nha khoa, thai sản, ... chi trả cả bệnh ung thư, cấy ghép nội tạng. Đặc biệt, khi không có yêu cầu bồi thường, người tham gia được giảm phí lên đến 15% cho năm tiếp theo. Tháng 8/2021, giải pháp tài chính "An Khang Hạnh Phúc" cũng được ra mắt với mục đích bảo vệ trọn đời và toàn diện trước các rủi ro trong cuộc sống, bảo vệ bệnh ung thư ngay từ giai đoạn đầu, mang đến các quyền lợi chăm sóc y tế ưu việt, bảo vệ kép trước nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim.

Năm 2021, dựa trên ý kiến đánh giá của các chuyên gia tài chính bảo hiểm và người tiêu dùng, Bảo Việt Nhân thọ lần thứ 5 dẫn đầu Top 10 "Công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín" theo Vietnam Report công bố.

Năm 2021, Bảo hiểm Bảo Việt đạt tổng doanh thu 10.588 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 8.949 tỷ đồng, tiếp tục khẳng định vị thế số 1 ngành bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam. Lợi nhuận sau thuế đạt 207 tỷ đồng, tăng mạnh so với năm 2020. Bảo hiểm Bảo Việt là doanh nghiệp tiên phong trong việc đẩy mạnh hợp tác cùng các đối tác quốc tế về tái bảo hiểm, công nghệ số để nghiên cứu và triển khai những giải pháp bảo hiểm toàn diện, tối ưu và an toàn cho khách hàng. Các sản phẩm mới của Bảo Việt kể đến như: Travel Easy, Flight Easy, E-cargo, E-claim, Baoviet Direct, Baoviet My Doctor… trên nền tảng trực tuyến, tạo nên một hệ sinh thái khép kín để mang lại sự trải nghiệm thuận tiện cho khách hàng.

Bảo hiểm Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ duy nhất của Việt Nam vinh dự nhận được giải thưởng Sáng kiến bảo hiểm số của năm và Sáng kiến ứng dụng bảo hiểm của năm tại Việt Nam do Insurance Asia Awards trao tặng trong hai năm 2020 và 2021.

Quý I/2022, Bảo hiểm Bảo Việt đã cho ra mắt chương trình bảo hiểm sức khỏe “Bảo Việt Tâm Bình” với nhiều quyền lợi mới tích hợp. Bảo Việt Tâm Bình là một chương trình bảo hiểm sức khoẻ đầy tiềm năng, không chỉ đầu tư tài chính hiệu quả mà còn bảo vệ người tham gia trước nhiều rủi ro, bệnh tật hoặc tử vong.../.

H.C

Đọc thêm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,390 ▲100K 13,990
Trang sức 99.99 13,400 ▲100K 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1238K 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1238K 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cập nhật: 03/08/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17879 18153 18728
CAD 18184 18460 19076
CHF 31871 32252 32891
CNY 0 3850 3942
EUR 29662 29884 30959
GBP 34553 34945 35876
HKD 0 3220 3422
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15110 15695
SGD 19951 20234 20805
THB 704 767 820
USD (1,2) 26011 0 0
USD (5,10,20) 26052 0 0
USD (50,100) 26081 26090 26455
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,707 29,731 31,134
JPY 163.16 163.45 173.29
GBP 34,747 34,841 36,046
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,375 18,434 19,112
CHF 32,090 32,190 33,129
SGD 20,074 20,136 20,933
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.93 17.66 19.21
THB 752.08 761.37 814.6
NZD 15,112 15,252 15,707
SEK - 2,712 2,807
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.73 - 6,770.89
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,881.18 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26075 26075 26475
AUD 18060 18160 19085
CAD 18366 18466 19480
CHF 32113 32143 33721
CNY 3830.5 3855.5 3990.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29836 29866 31589
GBP 34857 34907 36660
HKD 0 3355 0
JPY 163.92 164.42 174.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15220 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20108 20238 20965
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80