Tập trung đồng hành cùng SME, OCB đạt 2.113 tỷ đồng lợi nhuận 6 tháng 2024

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã ck: OCB) vừa công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2024, ghi nhận mức 2.113 tỷ đồng lợi nhuận. Với việc từng bước chuyển dịch cơ cấu khách hàng sang nhóm khách hàng có tiềm năng tăng trưởng tốt và xác lập chiến lược phát triển mới mang tính bền vững, OCB đã giữ được mức tăng trưởng tín dụng cao hơn bình quân ngành, hoạt động kinh doanh cốt lõi phát triển ổn định.
aa
Tập trung đồng hành cùng SME, OCB đạt 2.113 tỷ đồng lợi nhuận 6 tháng 2024
Ảnh tư liệu

Tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp

Trong thời gian qua, dù sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu nhưng các ngân hàng trong đó nổi bật là OCB đã nỗ lực, thực hiện nhiều giải pháp để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Theo báo cáo tài chính, tăng trưởng tín dụng của OCB tính đến hết 30/6/2024 đạt 6,3%, mức cao hơn trung bình ngành.

Với việc từng bước chuyển dịch cơ cấu khách hàng, cải thiện năng lực cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ phục vụ khách hàng, phát triển phân khúc doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), đưa ra nhiều chương trình, giải pháp tài chính thiết thực, ưu đãi lãi suất cố định, đồng hành cùng quá trình phát triển, sản xuất kinh doanh, tín dụng dành cho nhóm khách hàng SME của ngân hàng tăng gần 18%.

Ngoài việc hỗ trợ về lãi suất và tỷ giá, OCB cũng đang tập trung chuyển đổi số các sản phẩm dịch vụ tài chính để nâng cao sự thuận tiện và rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng doanh nghiệp.

Tính đến hết quý II/2024, huy động TT1 của ngân hàng giảm nhẹ về mức xấp xỉ cuối năm 2023, do ngân hàng chủ động cân đối nguồn vốn phù hợp hơn nhờ đó tối ưu hóa chi phí vốn.

Tổng thu thuần tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt 4.559 tỷ đồng, trong đó thu thuần từ lãi tăng gần 9%, cho thấy hoạt động kinh doanh cốt lõi giữ mức tăng trưởng ổn định nhờ “trái ngọt” của chiến lược chuyển đổi số.

Tháng 5/2024, OCB đã chính thức ra mắt phiên bản ngân hàng số OCB OMNI thế hệ mới, hiện đại nhất hiện nay, hội tụ đầy đủ những tính năng đáp ứng nhu cầu tối ưu của người tiêu dùng Việt Nam về tốc độ và sự tiện lợi.

Nhờ đó, đã thu hút lượng lớn khách hàng chuyển đổi sang giao dịch trực tuyến. Theo kết quả lũy kế 6 tháng đầu năm 2024, OCB OMNI có số lượng giao dịch tăng 76%, lượng tiền gửi không kỳ hạn (Casa) tăng 52%, lượng tiền gửi có kỳ hạn (Esaving) tăng 53%. Đối với mảng kinh doanh Thẻ, doanh số giao dịch thẻ tăng 27%, thu thuần tăng 32%.

Mặc dù thu thuần từ lãi tăng không đáng kể, tuy nhiên OCB đã tăng trưởng quy mô so với cùng kỳ, do ngân hàng chủ động hỗ trợ lãi suất và phí thông qua các chương trình đồng hành cùng khách hàng theo chủ trương chung của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN)..

Thu thuần ngoài lãi của OCB ghi nhận giảm hơn 24%, điều này đến chủ yếu từ hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu Chính phủ giảm do ảnh hưởng của thị trường. Tuy nhiên, ngân hàng đã cực kỳ linh hoạt, tận dụng tốt cơ hội biến động mạnh của tỷ giá giúp cải thiện trong thu thuần kinh doanh ngoại tệ, tăng gần 101% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ra, thu thuần ngoài lãi từ dịch vụ cũng ghi nhận giảm 27,9% so với năm trước, đạt 270 tỷ đồng. Lý do chủ yếu đến từ việc OCB chủ động hỗ trợ nhóm khách hàng doanh nghiệp lớn đã đồng hành lâu năm, bằng việc giảm phí dịch vụ các sản phẩm tài chính do OCB cung cấp, đồng thời khuyến khích và hướng khách hàng sử dụng giải pháp thanh toán số như OCB Propay, qua đó tiết kiệm đến 80% thời gian cũng như các chi phí vận hành của doanh nghiệp.

Điều này, phần nào hỗ trợ doanh nghiệp giảm áp lực về chi phí, tập trung phát triển, kinh doanh. Bên cạnh đó, cũng phù hợp với định hướng phát triển bền vững của ngân hàng.

Tập trung đồng hành cùng SME, OCB đạt 2.113 tỷ đồng lợi nhuận 6 tháng 2024
Ngân hàng số OCB OMNI phiên bản mới, tiện lợi và an toàn

OCB phát triển theo chiến lược bền vững

Cũng theo báo cáo, 6 tháng đầu năm, với việc gia tăng chi phí dự phòng và chi phí hoạt động đã khiến tổng lợi nhuận của ngân hàng đạt 2.113 tỷ, giảm 17,5% so với cùng kỳ năm 2023.

Chia sẻ về vấn đề này, lãnh đạo OCB cho biết, doanh nghiệp và người dân hiện vẫn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc ngân hàng trên toàn hệ thống phải đối mặt với vấn đề nợ xấu cao.

Chính vì vậy, để tăng bộ đệm, đảm bảo hoạt động của ngân hàng trước thực trạng thị trường có nhiều biến số khó lường, OCB đã tiến hành tăng chi phí dự phòng và đánh giá lại danh mục nợ với quan điểm thận trọng.

“Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tập trung mở rộng mạng lưới, phát triển nguồn nhân lực và hệ thống công nghệ. Điều này có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng trong giai đoạn hiện tại nhưng sẽ tạo nền tảng lâu dài cho việc phát triển bền vững của ngân hàng”, lãnh đạo OCB cho hay.

Được biết, cuối năm 2023, OCB đã mở mới 10 chi nhánh/phòng giao dịch (CN/PGD). Năm 2024, được sự phê duyệt của NHNN, ngân hàng dự kiến mở mới thêm 17 CN/PGD, nâng điểm giao dịch lên 176 tại 48 tỉnh thành trên cả nước. Số lượng nhân sự của ngân hàng trong 6 tháng, tăng thêm 12%, chi phí phúc lợi dành cho nhân viên và thu nhập cũng có sự cải thiện, tăng 15%.

Tính tại thời điểm 30/6/2024, tổng tài sản ngân hàng xấp xỉ đầu năm ở mức 238.884 tỷ đồng. Các quy định về tỷ lệ an toàn vốn và khả năng thanh khoản cũng được OCB kiểm soát và đảm bảo tuân thủ theo quy định của NHNN.

Mặc dù lũy kế 6 tháng đầu năm các nhóm nợ có tăng và đến chủ yếu từ nhóm khách hàng cá nhân tuy nhiên OCB vẫn kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức 2,3%, thấp hơn mức kiểm soát 3% của NHNN.

Việc luôn chủ động hỗ trợ, đưa ra các gói vay ưu đãi lãi suất về sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tiêu dùng, nhằm giúp người dân, cũng như doanh nghiệp có thêm điều kiện phát triển là ưu tiên hàng đầu của OCB trong nhiều năm qua. Với bối cảnh hiện tại, doanh nghiệp đóng cửa, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng… phần nào đã ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.

Đặc biệt, nhóm khách hàng không còn khả năng phục hồi từ sau tác động của covid và suy thoái kinh tế, đến thời điểm này đã chuyển sang nợ nhóm 5, tuy nhiên phần lớn nợ xấu đều có tài sản bảo đảm là bất động sản (BĐS).

Do thị trường BĐS vẫn chưa khởi sắc thời gian qua, việc xử lý tài sản đảm bảm còn gặp nhiều khó khăn, song song đó, phía ngân hàng cũng rất muốn hỗ trợ khách hàng xử lý tài sản ở mức giá phù hợp hơn. Với tình hình hiện nay, BĐS đang có dấu hiệu khởi sắc với nhiều hỗ trợ từ Chính phủ, sẽ là cơ hội giúp cả ngân hàng và khách hàng đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản đảm bảo trong thời gian tới đây, qua đó giảm tỷ lệ nợ xấu.

Ưu tiên xử lý, kiểm soát nợ xấu sẽ là một trong những mục tiêu quan trọng của OCB thời gian tới. Việc NHNN ban hành Thông tư 06 kéo dài thời gian thực hiện chính sách tại Thông tư 02 về cơ cấu nợ, giữ nguyên nhóm nợ đến hết 31/12/2024 sẽ giúp khách hàng giảm tải được phần nào áp lực trả nợ, có điều kiện phục hồi tốt hơn, nhờ đó, ngân hàng cũng giảm được áp lực nợ xấu, trích lập dự phòng.

Bên cạnh đó, OCB sẽ tiếp tục xây dựng, kiện toàn hệ thống quản trị nợ, cảnh báo sớm, từ đó giúp chúng tôi kiểm soát cũng như đưa ra nhiều phương án hỗ trợ khách hàng một cách hiệu quả hơn, đại diện lãnh đạo OCB nhấn mạnh thêm.

Năm 2024 được xem là năm quan trọng trong chiến lược phát triển giai đoạn 2021 - 2025 của OCB. Vì thế, trong những tháng cuối năm, ngân hàng sẽ tập trung đẩy mạnh, phát triển nhóm khách hàng cá nhân theo phân khúc trung và cao cấp với những sản phẩm “may đo” phù hợp với từng nhu cầu chuyên biệt.

Tận dụng tối đa nguồn lực, quy trình vận hành, ưu tiên hỗ trợ kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ xử lý giao dịch. Bên cạnh đó, áp dụng những chính sách mới, hiệu quả, nhằm tăng chất lượng tín dụng, tăng tốc xử lý nợ xấu và chuyển đổi số.

“6 tháng đầu năm, với những yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan từ thị trường cùng với việc chủ động đưa ra nhiều chính sách đồng hành cùng khách hàng cũng như tăng chi phí đầu tư công nghệ, chi phí nhân sự đã khiến kết quả quý 2 cũng như lũy kế 6 tháng của OCB chưa đạt như kỳ vọng. Tuy nhiên, với mục tiêu tăng trưởng ổn định, minh bạch, bền vững, cùng chiến lược rõ ràng và kế hoạch hành động cụ thể, tôi kỳ vọng 6 tháng cuối năm, ngân hàng sẽ có thành quả tốt hơn", ông Phạm Hồng Hải - Tổng Giám đốc OCB cho hay.
Quỳnh Quỳnh

Đọc thêm

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

(TBTCO) - Bước vào độ tuổi 40, khi cha mẹ ngày một lớn tuổi, con cái bước vào những năm học tập quan trọng và bản thân cũng bắt đầu nghĩ đến tuổi nghỉ hưu, nhiều người nhận ra mình đang phải chuẩn bị cho tương lai của cả ba thế hệ. Điều khiến họ trăn trở không chỉ là những khoản chi hôm nay, mà là làm sao để những kế hoạch đã dành nhiều năm vun đắp không bị dang dở giữa chừng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 14,150 14,350
Nguyên Liệu 99.9 14,100 14,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,880 15,130
NL 99.90 13,850
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18044 18318 18897
CAD 18254 18530 19146
CHF 32569 32953 33599
CNY 0 3854 3947
EUR 29890 30112 31196
GBP 34495 34887 35825
HKD 0 3228 3431
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14986 15577
SGD 19972 20254 20826
THB 723 786 840
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26433
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,113 26,113 26,433
USD(1-2-5) 25,069 - -
USD(10-20) 25,069 - -
EUR 30,052 30,076 31,439
JPY 159.88 160.17 169.44
GBP 34,696 34,790 35,916
AUD 18,246 18,312 18,965
CAD 18,460 18,519 19,154
CHF 32,846 32,948 33,831
SGD 20,118 20,181 20,932
CNY - 3,825 3,961
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 771.3 780.83 834.28
NZD 14,990 15,129 15,540
SEK - 2,766 2,857
DKK - 4,021 4,153
NOK - 2,729 2,822
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,051.24 - 6,816.75
TWD 753.53 - 910.7
SAR - 6,900.62 7,251.62
KWD - 83,531 88,666
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,093 26,113 26,433
EUR 29,988 30,108 31,297
GBP 34,704 34,843 35,862
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 32,631 32,762 33,682
JPY 159.89 160.53 168.33
AUD 18,247 18,320 18,912
SGD 20,169 20,250 20,836
THB 789 792 827
CAD 18,458 18,532 19,095
NZD 15,092 15,629
KRW 16.68 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26147 26147 26433
AUD 18233 18333 19258
CAD 18447 18547 19558
CHF 32846 32876 34455
CNY 3835 3860 3995.1
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30088 30118 31840
GBP 34810 34860 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.79 161.29 171.82
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20135 20265 20993
THB 0 752.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15250000
SBJ 13500000 13500000 15250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,433
USD20 26,146 26,196 26,433
USD1 23,917 26,196 26,433
AUD 18,269 18,369 19,481
EUR 30,250 30,250 31,656
CAD 18,396 18,496 19,802
SGD 20,223 20,373 20,936
JPY 161.14 162.64 167.21
GBP 34,711 35,061 36,149
XAU 14,978,000 0 15,182,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80