Techcombank đạt kết quả tích cực nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và quản trị chi phí

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của Techcombank đạt 22,8 nghìn tỷ đồng, tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 37,4 nghìn tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm tăng lần lượt so với cùng kỳ là 33,5% và 28,9%. Ngân hàng tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu về tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 40,5%, nhờ số dư CASA đạt mức cao kỷ lục 200 nghìn tỷ đồng. Tỉ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II tăng lên 15,1% và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) duy trì vị thế đầu ngành, đạt 2,6%.
aa

Kết quả kinh doanh tích cực

Kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm của Techcombank được ghi nhận tích cực nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và quản trị chi phí. Trong 9 tháng đầu năm 2024, Techcombank thu nhập lãi thuần (NII) đạt 26,9 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tích cực 33,9% so với cùng kỳ năm. Biên lãi ròng (NIM, trượt 12 tháng) duy trì tại 4,3%, đi ngang so với quý trước và tăng so với mức 4,1% của cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, thu nhập từ hoạt động dịch vụ (NFI) của Techcombank ghi nhận tăng 17,1% lên mức 8,3 nghìn tỷ đồng trong đó mức tăng khả quan từ Phí dịch vụ ngân hàng đầu tư đạt 2.541 tỷ đồng, tăng 110,6%.

Techcombank đạt kết quả tích cực nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và quản trị chi phí
Hội sở Techcombank số 6 Quang Trung, Hà Nội

Một số hoạt động thu phí khác của ngân hàng cũng tăng đáng kể như phí dịch vụ bảo hiểm đạt 594,1 tỷ đồng, tăng 29,8%. Mức độ tăng trưởng này phản ánh sự khác biệt trong sản phẩm may đo cho nhu cầu khách hàng của Techcombank khi thị trường chứng kiến niềm tin của người tiêu dùng dần quay trở lại, mặc dù còn ở mức độ khá thấp.

Tại cuối tháng 9/2024, tổng tài sản của Techcombank đạt 927,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với đầu năm. Tính riêng Ngân hàng, tín dụng tăng trưởng 17,4% so với đầu năm lên 622,1 nghìn tỷ đồng. Trên cơ sở hợp nhất, tín dụng cá nhân là động lực dẫn dắt tăng trưởng trong quý 3. Dư nợ khách hàng cá nhân tăng tới 6,0% so với quý trước.

Cụ thể, tăng trưởng tín dụng cá nhân được thúc đẩy bởi mảng cho vay mua nhà, tăng 6,6% so với quý trước và 13,2% so với đầu năm lên mức cao kỷ lục 193,6 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, số dư trả trước hạn vay mua nhà giảm xuống mức thấp nhất trong một năm trở lại, trong khi khối lượng giải ngân trong quý tiếp tục đạt mức cao, hơn 28 nghìn tỷ đồng.

Tín dụng doanh nghiệp ghi nhận mức tăng 2,9% so với quý trước và 16,3% so với đầu năm lên 395,1 nghìn tỷ đồng.

Techcombank cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực của huy động tiền gửi từ khách hàng. Ngay từ khi công bố tháng 1/2024, tài khoản Techcombank mở ra “kỷ nguyên sinh lời tự động” đã thu hút sự quan tâm và sinh lợi tốt nhất cho khách hàng. Kết quả quý 3 đã cho thấy ngân hàng nhận được những “quả ngọt” cụ thể với số dư CASA (bao gồm số dư “Sinh lời tự động) của Techcombank đạt mức cao kỷ lục 200,3 nghìn tỷ đồng, góp phần đưa tỷ lệ CASA lên 40,5%. Tính chung tiền gửi của khách hàng đạt 495,0 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9% so với đầu năm và 21,0% so với cùng kỳ năm trước.

Chi phí hoạt động của Techcombank tăng nhẹ tăng 10,2% lên mức 10,6 nghìn tỷ đồng. Tính riêng quý 3, chi phí này giảm 5,5% so với quý trước và giảm 13,1% so với cùng kỳ còn 3,4 nghìn tỷ đồng. Nhờ vậy, tỷ lệ chi phí/ thu nhập (CIR) của 9 tháng năm 2024 đi ngang ở ngưỡng 28,4%. Chi phí dự phòng ghi nhận 3.964 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của Techcombank tăng trưởng tích cực lên 103,4% tại cuối tháng 9/2024.

Dẫn đầu về an toàn vốn và ngân hàng số

Vị thế vốn của Techcombank vẫn được duy trì mạnh mẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) là 82,2% tại 30/09/2024, dưới mức trần 85% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức 24,2%, đi ngang so với cùng kỳ quý trước.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II của Ngân hàng cải thiện lên mức 15,1% tại 30/09/2024, cao hơn nhiều so với yêu cầu của trụ cột I, Basel II (8,0%) và phù hợp với ngưỡng mục tiêu 14-15%.

Techcombank kết thúc 9 tháng 2024 với hơn 14,8 triệu khách hàng, thu hút thêm gần 500.000 khách hàng mới trong quý. 57,4% khách hàng cá nhân gia nhập thông qua nền tảng số và 42,1% từ kênh chi nhánh, đặc biệt nhờ chương trình mở rộng nhóm khách hàng nhà bán lẻ (merchant).

Tiếp tục dẫn đầu là một trong những ngân hàng số tốt nhất Việt Nam, Techcombank ghi nhận số lượng giao dịch của khách hàng cá nhân qua các kênh ngân hàng điện tử đạt 850,5 triệu trong quý 3/2024, tăng 8,9% so với quý trước và tăng cao 47,2% so với cùng kỳ năm. Tổng giá trị giao dịch qua kênh ngân hàng điện tử trong quý 3 đạt 2,7 triệu tỷ đồng tăng 10,7%.

Theo Ông Jens Lottner – Tổng Giám đốc Techcombank: Trong quý 3/2024, Techcombank tiếp tục ghi nhận những kết quả kinh doanh tăng trưởng vượt trội với các chỉ số được duy trì trong nhóm các ngân hàng hiệu quả hàng đầu thị trường. Đồng thời, quý này cũng ghi nhận những bước đi mới của Ngân hàng, đặc biệt với mảng kinh doanh bảo hiểm, với hai sự kiện quan trọng trong tháng 10: Techcombank đạt được thỏa thuận ngừng mối quan hệ đối tác độc quyền với Manulife, đồng thời công bố góp vốn thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm phi nhân thọ Techcom (TCGIns). Đây là nhưng bước tiến quan trọng của Techcombank trong chiến lược mở rộng hệ sinh thái, phục vụ nhiều khách hàng hơn với các sản phẩm tài chính, bảo hiểm toàn diện hơn.

TCBS hoàn thành kế hoạch 105%, thu hút hơn 86.400 khách hàng mới

Đặc biệt quý 3/2024, Công ty cổ phần Chứng khoán Kỹ thương (TCBS) ghi nhận 1.097 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, đưa lũy kế 9 tháng đầu năm 2024 đạt 3.869 tỷ đồng, hoàn thành 105% kế hoạch cả năm.

TCBS tiếp tục củng cố vị thế về môi giới chứng khoán với việc đây là quý thứ 4 liên tiếp TCBS duy trì vị trí top 3 công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất trên sàn HOSE (7,09%). Đồng thời, TCBS cũng giữ vững vị trí thứ 2 trên sàn HNX (7,89% thị phần) trong quý thứ 3 liên tiếp. Điều này cho thấy TCBS là lựa chọn hàng đầu của nhà đầu tư nhờ vào chất lượng dịch vụ và chiến lược Zero fee.

Trong 9 tháng 2024, khối lượng trái phiếu do TCBS tư vấn phát hành đạt khoảng 40 nghìn tỷ đồng, tương đương 44% thị phần (không bao gồm trái phiếu do ngân hàng phát hành). Cũng trong khoảng thời gian này, khối lượng trái phiếu được TCBS phân phối đạt hơn 57 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng ấn tượng 52,1% N/N, phản ánh nhu cầu cao của khách hàng với loại hình tài sản trái phiếu.

Việc đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng công nghệ đã giúp TCBS mang lại trải nghiệm vượt trội cho khách hàng. Trong 9 tháng năm 2024, hệ thống TCInvest ghi nhận hiệu suất ấn tượng với hơn 86.400 khách hàng mới, trung bình 166 triệu lượt truy cập mỗi tháng. TCBS tiếp tục khẳng định vị thế tiên phong trong lĩnh vực Fintech với việc ứng dụng công nghệ Generative AI (Gen AI) vào nhiều giải pháp đột phá, mang lại trải nghiệm vượt trội cho khách hàng.

Techcombank đạt kết quả tích cực nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và quản trị chi phí
Khách hàng giao dịch tại Techcombank

Trong quý 3, Techcombank tiếp tục lan tỏa tinh thần thể thao, ý nghĩa nhân văn, gắn kết cùng cộng đồng thông qua Giải Marathon Quốc tế Hà Nội Techcombank mùa thứ 3 thu hút hơn 10.000 vận động viên đến từ 42 quốc gia. Techcombank nhanh chóng trao 3 tỷ đồng hỗ trợ đồng bào bị ảnh hưởng bởi cơn bão Yagi thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cam kết đóng góp thêm số tiền tương ứng từ CBNV để nhân đôi sự đồng hành này.

Trong dịp kỷ niệm 31 năm thành lập, Techcombank đã lan tỏa tích cực câu chuyện thương hiệu “tiến tới phiên bản vượt trội hơn trong bạn” đến cộng đồng và triển khai nhiều chương trình ý nghĩa, khẳng định sự cam kết mạnh mẽ cho việc xây dựng văn hóa tổ chức tạo điều kiện cho sự phát triển của nhân sự - một trong ba trụ cột chiến lược của ngân hàng. Techcombank đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận với những thành tựu trong hoạt động nhân sự Giải thưởng Stevie Awards cho Nhà tuyển dụng xuất sắc (Stevie Awards for Great Employers 2024) Giải Bạc - Nhà tuyển dụng của năm ngành Ngân hàng; Giải Đồng - Thành tựu ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực nhân sự, Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Workplaces in Asia) – trao bởi tổ chức uy tín Great Place to Work – năm thứ 2 liên tiếp.

Thanh Lê

Đọc thêm

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,650 25,830 26,200
USD20 25,630 25,830 26,200
USD1 24,356 25,830 26,918
AUD 18,170 18,325 19,452
EUR 29,150 29,308 31,800
CAD 18,110 18,269 19,594
SGD 20,007 20,207 20,784
JPY 161.11 163.13 168.86
GBP 34,090 34,302 35,400
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30