“Thiệt đơn thiệt kép” khi rút bảo hiểm xã hội một lần

Hà My
(TBTCO) - Với một số người, số tiền rút bảo hiểm xã hội một lần có thể “ra tấm, ra món”, nhưng rồi cũng chỉ đủ trang trải trong vài tháng ngắn ngủi và lại tiếp tục lo mưu sinh cho tuổi già. Thực trạng này rất đáng lo ngại, không chỉ gây thiệt thòi lớn về quyền lợi của người lao động, mà còn tạo hệ lụy cho an sinh xã hội quốc gia khi dân số nước ta đang bắt đầu già hóa.
aa

Tự tước quyền an sinh cơ bản của bản thân

Mất việc sau đại dịch, kinh tế gia đình khó khăn khiến một số người lao động (NLĐ) lựa chọn rút bảo hiểm xã hội (BHXH) một lần để có khoản chi tiêu, trang trải cuộc sống; đồng thời một bộ phận nhỏ NLĐ vì lợi ích trước mắt, muốn rút BHXH một lần để có được một khoản “tiền tươi”.

Việc rút bảo hiểm xã hội một lần khiến người lao động mất đi cơ hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.
Việc rút bảo hiểm xã hội một lần khiến người lao động mất đi cơ hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.

Tuy nhiên, theo BHXH Việt Nam, khi lựa chọn hưởng BHXH một lần, các quyền lợi của NLĐ sẽ bị hạn chế hơn rất nhiều so với hưởng lương hưu. Trước hết, khi nhận một lần, NLĐ không còn trong hệ thống BHXH được Nhà nước bảo hộ, mất cơ hội được hưởng lương hưu hàng tháng - nguồn thu nhập ổn định, hữu ích khi về già. Trong khi đó, người tham gia BHXH khi đã hưởng lương hưu thì mức lương hưu sẽ được điều chỉnh định kỳ theo chỉ số giá tiêu dùng và mức tăng trưởng kinh tế (từ năm 2003 đến nay, Nhà nước đã điều chỉnh tăng lương hưu 17 lần, với mức tăng từ khoảng 7,5% đến 9,3% cho mỗi lần điều chỉnh, tùy theo nhóm đối tượng).

Rút một lần cũng khiến NLĐ mất đi cơ hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) miễn phí trong suốt thời gian hưởng lương hưu để hưởng các quyền lợi về khám chữa bệnh BHYT, chăm sóc sức khỏe khi tuổi già, độ tuổi dễ gặp bất trắc về sức khỏe nhất của mỗi người. Đồng thời, thân nhân của NLĐ không được hưởng chế độ tử tuất khi không may NLĐ qua đời (theo quy định hiện hành, người lo mai táng sẽ được nhận một lần trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng người hưởng lương hưu qua đời và thân nhân được hưởng trợ cấp tử tuất hàng tháng hoặc một lần).

Khi rút BHXH, số tiền NLĐ nhận BHXH một lần thiệt hơn so với số tiền đã đóng vào quỹ BHXH. Hiện tại, tổng mức đóng mà NLĐ và người sử dụng lao động đóng vào quỹ BHXH hàng năm bằng 2,64 tháng lương. Nếu NLĐ hưởng BHXH một lần thì mức hưởng mỗi năm đóng BHXH chỉ bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014 và bằng 2 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi. Như vậy, nếu lĩnh tiền BHXH một lần, NLĐ sẽ mất đi khoảng 1,14 tháng lương đối với mỗi năm đóng BHXH trước năm 2014 và khoảng 0,64 tháng lương đối với mỗi năm đóng BHXH sau năm 2014.

Nhiều người lao động nuối tiếc khi rút một lần

Ở tuổi 60, bà Hoàng Thị Lan (Hoàng Mai, Hà Nội) không có lương hưu, không có trợ cấp, mọi khoản chi tiêu đều trông chờ hết vào nghề bán xôi mà mỗi ngày bà phải dậy thật sớm để kịp đồ xôi mang ra chợ bán. Trước đây, bà từng có thời gian làm công nhân rồi chọn nghỉ việc theo chế độ 176 (nghỉ việc nhận các chế độ trợ cấp một lần). Khoản tiền mấy chục triệu nhận về khi ấy chỉ đủ để bà mua bộ bàn ghế và một chiếc xe đạp cho gia đình. Chia sẻ về cảnh chật vật mưu sinh, bà Lan tiếc nuối cho quãng thời gian đã từng đóng BHXH trước đây: “Giờ tuổi cao, đáng lẽ được nghỉ hưu an nhàn thì ngày ngày mình vẫn phải lo làm kiếm sống. Lúc khoẻ đã vậy, chỉ sợ lúc ốm đau, lại không có đồng ra đồng vào… Giá như hồi đó suy nghĩ sâu xa, không lựa chọn rút trợ cấp một lần”.

Nên đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp khi bị mất việc

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nếu không may bị thất nghiệp, người lao động nên đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp học nghề để vượt qua khó khăn với các quyền lợi hưởng như: Được hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp, tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở hoặc 5 lần mức lương tối thiểu vùng; được hưởng chế độ bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định để khám, chữa bệnh BHYT khi không may ốm đau; được hỗ trợ học nghề (tối đa 1 triệu đồng/người/tháng); được hỗ trợ, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

Cùng tâm trạng tiếc nuối như bà Lan, chị Bùi Thị Hạt (Nam Định) từng làm cho một công ty may trong miền Nam được hơn 9 năm. Năm 2021, khi dịch Covid-19 bùng phát, chị Hạt phải nghỉ việc, chồng chị cũng mất việc sau đó. Hai vợ chồng trở về quê làm công việc tự do. Đến giữa năm ngoái, chị làm thủ tục xin rút BHXH một lần để có khoản tiền trang trải cuộc sống.

Chị Hạt giãi bày: “Khoản tiền đó qua mấy tháng dịch bệnh thì cũng hết. Giờ thấy bố mẹ già vẫn phải bươn chải nhiều nghề, không có lương hưu, không có thẻ BHYT đi khám chữa bệnh mới cảm thấy hối tiếc, muốn đóng lại khoản tiền BHXH đã rút mà không được chấp nhận. Vợ chồng tôi dự định, tháng tới, sẽ nộp đơn xin tuyển dụng vào làm công nhân ở công ty gần nhà, để lại được tham gia BHXH”.

Bà Lan và chị Hạt là 2 trong số rất nhiều trường hợp NLĐ cảm thấy nuối tiếc khi rút BHXH một lần, muốn được nộp lại khoản tiền đã rút để được hưởng lương hưu hoặc để phục hồi số năm đã tham gia BHXH cho đủ điều kiện hưởng lương hưu. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định hồi tố này.

BHXH Việt Nam khuyến cáo, trong trường hợp, với những khó khăn trước mắt (do mất việc làm, giảm sút thu nhập gây nên) NLĐ hoàn toàn có thể bảo lưu thời gian đóng BHXH, để khi có điều kiện thì tiếp tục tham gia BHXH bắt buộc hoặc tham gia BHXH tự nguyện (mọi người tham gia BHXH tự nguyện đều được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, với các mức hỗ trợ 10% - 25% - 30% tính trên chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn với 3 nhóm đối tượng khác nhau).

Hà My

Đọc thêm

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

(TBTCO) - Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

Giải "cơn khát" vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản

(TBTCO) - Thanh khoản ngân hàng vẫn chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động vốn, đặc biệt vào các giai đoạn "dồn toa", trong khi huy động không theo kịp. Sự suy giảm tỷ trọng tiền gửi khách hàng 13 điểm phần trăm sau khoảng 6 năm còn 68%, cùng áp lực cân đối nguồn vốn đòi hỏi phải phát triển mạnh các kênh dẫn vốn trung và dài hạn.
SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

SHB được The Asian Banker vinh danh với giải pháp tài chính tốt nhất cho tiểu thương, hộ kinh doanh

(TBTCO) - Tại lễ trao giải Vietnam Awards 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) được The Asian Banker - tổ chức đánh giá và xếp hạng uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại châu Á - trao tặng giải thưởng “Best Merchant Service (Category Micro-Merchant)”.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Kim TT/AVPL 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▼250K 14,400 ▼250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▼250K 14,350 ▼250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▼250K 14,330 ▼250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▼1500K 147,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▼160K 14,700 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▼140K 14,700 ▼140K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼140K 14,590 ▼140K
Trang sức 99.99 13,900 ▼140K 14,600 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1312K 14,702 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1312K 14,703 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▼16K 1,469 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▼16K 147 ▼1339K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼16K 1,454 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼124849K 14,396 ▼131149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▼1200K 109,211 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲80470K 99,032 ▲89020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▼976K 88,853 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲67791K 84,927 ▲76341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▼667K 60,788 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1312K 147 ▼1339K
Cập nhật: 23/06/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/06/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80