TP. HỒ CHÍ MINH:

Tín dụng tăng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Lạc Nguyên
(TBTCO) - Chia sẻ với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cho biết, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ và tiêu dùng tăng cao trở thành yếu tố thuận lợi giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng những tháng cuối năm 2024.
aa
Tín dụng tăng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tính đến cuối tháng 11/2024, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đạt 3.828 nghìn tỷ đồng. Ảnh tư liệu

PV: Tính đến cuối tháng 11/2024, tốc độ tăng trưởng tín dụng đang cao hơn so với tháng trước. Ông có nhận định gì về mức tăng trưởng này?

Tín dụng tăng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Ông Nguyễn Đức Lệnh: Tại TP. Hồ Chí Minh, tín dụng tháng 10/2024 tăng 0,98% và tính đến cuối tháng 11/2024, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt 3.828 nghìn tỷ đồng, tăng 1,14% so với tháng trước; tăng 8,1% so với cuối năm 2023 và tăng 12,5% so với cùng kỳ.

Tín dụng đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, góp phần thúc đẩy hoạt động này tăng trưởng tích cực. Theo đó, dư nợ tín dụng ngoại tệ đã tăng trưởng dương trở lại trong tháng 10 và tháng 11/2024, riêng tháng 11/2024 tăng 3,14%. Tín dụng VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng cao (chiếm 96,1%) trong tổng dư nợ tín dụng và tăng trưởng cao hơn mức tăng chung trên địa bàn, tăng 8,6% so với cuối năm trước và 13,4% so với cùng kỳ. Kết quả này, góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn để hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thành phố.

Yếu tố lãi suất cho vay thấp cùng với việc giải ngân các gói tín dụng ưu đãi và các chương trình tín dụng được tổ chức thực hiện thông qua chương trình kết nối ngân hàng doanh nghiệp có hiệu quả là yếu tố chính tác động đến tăng trưởng tín dụng trong 11 tháng trên địa bàn.

PV: Lĩnh vực nào đang góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, thưa ông?

Ông Nguyễn Đức Lệnh: Phân tích dư nợ tín dụng theo ngành lĩnh vực, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các nhóm ngành, lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế.

Trong đó, cho vay 5 nhóm ngành lĩnh vực bao gồm: doanh nghiệp nhỏ và vừa; xuất khẩu; lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực.

Riêng cho vay bằng ngoại tệ (là cho vay có điều kiện chỉ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu theo quy định) đã tăng trưởng dương trở lại trong 2 tháng gần đây.

Đến cuối tháng 11/2024, dư nợ cho vay ngoại tệ THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ TÀI SẢN trên địa bàn đạt gần 148 nghìn tỷ đồng, tăng 3,14% so với tháng trước và chiếm 3,8% so với tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn.

Các hoạt động tín dụng tiêu dùng; cho vay các lĩnh vực khác cũng tăng trưởng tốt trong những tháng cuối năm, đã tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thành phố, đồng thời tác động tích cực trở lại đối với quá trình mở rộng và tăng trưởng tín dụng trên địa bàn hiện nay.

PV: Thưa ông, để góp phần ổn định thị trường tiền tệ và mặt bằng lãi suất thị trường, phía NHNN sẽ triển khai những biện pháp nào?

Ông Nguyễn Đức Lệnh: Mục tiêu chính sách tiền tệ hiện nay, đồng thời cũng là nhiệm vụ của ngành Ngân hàng là ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Đây là nhiệm vụ kép và NHNN đã và đang sử dụng hiệu quả các công cụ chính sách để đảm bảo lãi suất hợp lý vừa hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo giá trị tiền đồng, kìm giữ lạm phát trong mối liên hệ hợp lý giữa lãi suất và tỷ giá, để ổn định kinh tế vĩ mô.

Bên cạnh đó, để phát huy hiệu quả chính sách và công cụ điều hành của NHNN, các tổ chức tín dụng (TCTD) cũng tích cực và chủ động cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động để tiết giảm chi phí đầu vào, từ đó giảm lãi suất cho vay bền vững cũng như giảm thời gian giao dịch cho khách hàng, để hỗ trợ doanh nghiệp có hiệu quả và thiết thực nhất.

PV: Theo ông, với đà tăng trưởng của 2 tháng vừa qua, cộng thêm những yếu tố thuận lợi khác có góp phần thúc đẩy tăng trưởng GRDP của thành phố đạt kế hoạch trong năm 2024?

Ông Nguyễn Đức Lệnh: Như đã phân tích ở phần trên, cuối năm thường nhu cầu vốn tăng cao để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ và du lịch dịp Tết cổ truyền. Yếu tố này tác động trực tiếp đến tăng trưởng tín dụng các tháng cuối năm. Ở góc độ quản trị, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng thường là nhu cầu vốn ngắn hạn, khả năng hấp thụ vốn tốt, vòng quay vốn tăng nhanh. Vì vậy vốn tín dụng được sử dụng hiệu quả hơn.

Hiện nay, các TCTD trên địa bàn đã và đang chủ động mở rộng và tăng trưởng tín dụng để đáp ứng kịp thời vốn cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh dịp cuối năm, khi tổng cầu của nền kinh tế tăng nhanh gắn với các hoạt động xuất khẩu và sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu dip tết cũng như tất cả các nhu cầu phục vụ đời sống, đi lại và du lịch của người dân tăng cao.

Tóm lại, kết quả tăng trưởng tín dụng 11 tháng trên địa bàn cùng yếu tố thuận lợi tác động sẽ tiếp tục là động lực góp phần thúc đẩy tín dụng trên địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng hai con số khi kết thúc năm kế hoạch và phù hợp với với mức tăng trưởng GRDP của thành phố (dự kiến) là 7,17% trong năm 2024. Đồng thời, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội của thành phố và là cơ sở để thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2025 - năm có ý nghĩa quan trọng quyết định hoàn thành nhiệm vụ nhiệm kỳ 2020 - 2025.

PV: Xin cảm ơn ông!

Lạc Nguyên

Đọc thêm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▲50K 13,940 ▼50K
Trang sức 99.99 13,350 ▲50K 13,950 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 03/08/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17942 18216 18793
CAD 18197 18473 19090
CHF 31837 32218 32867
CNY 0 3852 3945
EUR 29674 29896 30973
GBP 34600 34992 35927
HKD 0 3221 3423
JPY 161 165 171
KRW 0 17 19
NZD 0 15167 15757
SGD 19977 20259 20834
THB 704 767 820
USD (1,2) 26019 0 0
USD (5,10,20) 26060 0 0
USD (50,100) 26089 26098 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,717 29,741 31,150
JPY 163.42 163.71 173.56
GBP 34,778 34,872 36,081
AUD 18,141 18,207 18,897
CAD 18,385 18,444 19,120
CHF 32,086 32,186 33,137
SGD 20,096 20,158 20,951
CNY - 3,819 3,965
HKD 3,285 3,295 3,433
KRW 16.97 17.7 19.26
THB 752.08 761.37 815.09
NZD 15,142 15,283 15,739
SEK - 2,716 2,812
DKK - 3,986 4,127
NOK - 2,724 2,820
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.47 - 6,784.15
TWD 734.76 - 890.04
SAR - 6,880.63 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26500
AUD 18142 18242 19173
CAD 18392 18492 19503
CHF 32106 32136 33726
CNY 3835.9 3860.9 3996.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29870 29900 31628
GBP 34919 34969 36738
HKD 0 3355 0
JPY 164.68 165.18 175.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15289 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20152 20282 21003
THB 0 733.8 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13700000 13700000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,094 26,144 26,480
USD20 26,044 26,144 26,575
USD1 24,091 26,144 26,605
AUD 18,140 18,240 19,379
EUR 29,625 29,725 31,426
CAD 18,331 18,431 19,766
SGD 20,176 20,326 20,921
JPY 163.65 165.15 170.94
GBP 34,804 34,954 36,066
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80