Tín hiệu sức bật tăng trưởng tín dụng nửa cuối năm

Chí Tín
(TBTCO) - Tín hiệu phục hồi của tốc độ tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn gần đây cho thấy, dòng vốn ngân hàng đang được khơi thông mạnh mẽ và thẩm thấu vào nền kinh tế. Xu hướng này mở ra nhiều kỳ vọng vào sức bật của tăng trưởng tín dụng trong phần còn lại của năm 2024.
aa
Tín hiệu sức bật tăng trưởng tín dụng nửa cuối năm
Dòng vốn từ ngân hàng đã có tín hiệu khơi thông mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Ảnh tư liệu.

Tín dụng phục hồi mạnh

Theo thông tin vừa được chia sẻ từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tốc độ tăng trưởng tín dụng tính đến cuối tháng 6/2024 đạt 6%. Tín dụng tập trung vào các động lực tăng trưởng kinh tế, đáp ứng các xu hướng mới như tín dụng xanh. Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng (TCTD) đã tập trung triển khai các chương trình tín dụng như: Chương trình 120.000 tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư; chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản; tín dụng chính sách; các chương trình mục tiêu quốc gia…

Diễn biến tăng trưởng tín dụng cho thấy, dòng vốn từ ngân hàng đã có tín hiệu khơi thông mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Trước đó tại thời điểm giữa tháng 6/2024, số liệu của NHNN khi đó cho biết tăng trưởng tín dụng đến 14/6 mới đạt 3,79% so với cuối năm 2023. Theo đó, chỉ trong vòng nửa tháng, tín dụng đã vọt tăng mạnh thêm tới 2,21%.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, việc điều hành tăng trưởng tín dụng là vấn đề lớn. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD cung ứng nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế, ngay từ đầu năm, NHNN đã giao hết toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 cho các TCTD và thông báo công khai nguyên tắc xác định để TCTD chủ động thực hiện. 2 tháng đầu năm, tăng trưởng âm do giai đoạn đó nhu cầu vốn của doanh nghiệp còn thấp, nhưng sau đó đã có xu hướng tích cực hơn, thể hiện sự phục hồi rõ rệt giai đoạn từ tháng 3 đến nay.

Lãnh đạo NHNN cho biết, việc điều hành cung ứng dòng tiền trong nước cũng phải đối chiếu các yếu tố kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước. Cụ thể diễn biến 6 tháng đầu năm 2024 cho thấy, kinh tế thế giới tiếp tục khó khăn, tăng trưởng không đồng đều tại các quốc gia, khu vực do tác động của điều kiện tài chính thắt chặt, xung đột địa chính trị, rủi ro tài chính gia tăng.

Kinh tế trong nước đã có sự phục hồi tích cực, lạm phát ổn định nhưng tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức do chịu tác động của kinh tế thế giới và những vấn đề nội tại của kinh tế trong nước.

Kỳ vọng những tháng cuối năm

Mặc dù tín dụng đã có diễn biến tăng trưởng khá chậm giai đoạn đầu năm, nhưng sự bật tăng mạnh trong thời gian gần đây cho thấy diễn biến “gió đã đổi chiều” trên thị trường tiền tệ, từ trạng thái có phần “ùn ứ” hồi đầu năm, sang trạng thái của một dòng chảy đang trở nên mạnh mẽ hơn.

Trong cơ cấu tín dụng, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng thuộc NHNN cho biết, tín dụng đến tháng 6 đã đáp ứng các yêu cầu chung của nền kinh tế. Riêng tín dụng thuộc các lĩnh vực ưu tiên đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với mặt bằng chung, đặc biệt, tín dụng nông nghiệp nông thôn có tỷ trọng lớn nhất trong các lĩnh vực ưu tiên.

Về quan điểm điều hành lãi suất, NHNN cho biết vẫn tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay; yêu cầu các TCTD công khai lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân cũng như thông tin về lãi suất cho vay các gói, chương trình tín dụng, sản phẩm trên website của ngân hàng.

NHNN cho biết, trong thời gian tới tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong cung ứng và tiếp cận tín dụng ngân hàng; đẩy mạnh các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù; tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro… Ngành Ngân hàng cũng cho biết, sẽ vẫn duy trì các cuộc tiếp xúc ngân hàng - doanh nghiệp để trao đổi tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, các yếu tố khách quan từ nền kinh tế cũng đang phát đi những tín hiệu tích cực và theo ông Đào Minh Tú, khi kinh tế tăng trưởng tốt thì nhu cầu vay vốn cũng sẽ tăng cao hơn. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2024 tăng khá, thể hiện rõ xu hướng phục hồi của nền kinh tế với tốc độ tăng ước đạt 6,93% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 7,99% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2024. Tính chung GDP 6 tháng đầu năm 2024 tăng 6,42%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 6,58% của 6 tháng đầu năm 2022 trong giai đoạn 2020-2024. Nhiều tổ chức quốc tế gần đây đã đưa những dự báo lạc quan về tăng trưởng GDP cả năm 2024, với khả năng có thể đạt khoảng 6,5% - 6,9%.

Giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm

Tín hiệu sức bật tăng trưởng tín dụng nửa cuối năm

Việc điều hành tăng trưởng tín dụng là vấn đề lớn. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế, ngay từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước đã giao hết toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 cho các tổ chức tín dụng và thông báo công khai nguyên tắc xác định để tổ chức tín dụng chủ động thực hiện. Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80