Tỷ lệ nội địa hóa tác động tích cực đến doanh nghiệp ngoại

Hà My
(TBTCO) - Theo nhiều doanh nghiệp FDI, việc cải thiện tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu, linh kiện, thiết bị sản xuất trong nước của Việt Nam có tác động tích cực đến việc mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào Việt Nam của nhà đầu tư ngoại.
aa
Tỷ lệ nội địa hóa tác động tích cực đến doanh nghiệp ngoại
Tốc độ tăng trưởng tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam trong 10 năm qua là rất tốt. Ảnh: TL

Tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đạt gần 42%

Theo báo cáo Kết quả khảo sát thực trạng doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài năm tài chính 2023 được Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Việt Nam công bố cuối tháng 1/2024, hiện tỷ lệ thu mua tại chỗ của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đã tăng so với năm 2022. Báo cáo cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đang tăng dần khi tỷ lệ thu mua nguyên vật liệu, linh phụ kiện tại chỗ của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đạt 41,9% (tăng gần 10% trong 10 năm). Trong đó, thu mua từ các doanh nghiệp địa phương là 17,2%, tăng 2,2% so với năm trước và cao hơn mức trung bình 10,4% từ ASEAN.

Với con số xấp xỉ 42%, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đã tăng gần 10% trong 10 năm. Theo ông Takeo Nakajima - Trưởng đại diện JETRO tại Việt Nam, dù vẫn ở mức thấp so với Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia nhưng tốc độ tăng trưởng tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam trong 10 năm qua là rất tốt, đứng thứ 2 trong các thị trường mà doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động, sau Ấn Độ. “Theo tôi, đây là kết quả khá tích cực nhờ những nỗ lực của Việt Nam cũng như việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp Nhật Bản” - ông Takeo Nakajima nhấn mạnh.

Theo các doanh nghiệp FDI, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam có vai trò khá quan trọng tác động tích cực đến việc quyết định đầu tư hay mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Trưởng đại diện JETRO tại Việt Nam khẳng định, vấn đề tỷ lệ nội địa hóa cho đến nay vẫn là yếu tố ảnh hưởng ít nhiều đến mong muốn mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam.

Tương tự, kết quả khảo sát AHK World Business Outlook - Mùa Thu 2023 được Phòng Công nghiệp và Thương mại Đức (AHK) tại Việt Nam công bố cuối năm 2023 cũng cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa là một trong những yếu tố quan trọng tới quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Đức tại thị trường Việt Nam. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, 50% doanh nghiệp Đức tham gia khảo sát cho rằng, tiềm năng tăng trưởng của thị trường Việt Nam là yếu tố then chốt. Theo sát là việc thu hẹp khoảng cách với khách hàng và tốc độ nội địa hóa với tỷ lệ 43%.

Việc tăng tỷ lệ nội địa hóa một mặt giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, mặt khác đây cũng là yếu tố quan trọng nhằm giảm rủi ro về địa chính trị. Do đó, xu hướng của các doanh nghiệp FDI hiện nay là muốn tăng cường thu mua tại thị trường Việt Nam để tránh các rủi ro.

Cần quy hoạch phát triển ngành mang tính đồng bộ

Gần 50% doanh nghiệp Nhật Bản muốn mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

Dù có những cải thiện về tỷ lệ nội địa hóa, nhưng hiện những linh phụ kiện quan trọng của nhiều sản phẩm vẫn chưa được sản xuất tại Việt Nam mà phải nhập từ Malaysia, Indonesia. Vì vậy, cải thiện hơn nữa tỷ lệ nội địa hóa là yêu cầu đặt ra để thu hút nhiều hơn nữa nguồn FDI.

Tỷ lệ nội địa hóa tác động tích cực đến doanh nghiệp ngoại

Nhiều cơ hội hợp tác cho doanh nghiệp Việt - Nhật

"Hiện mong muốn của doanh nghiệp Nhật Bản về thu mua tại Việt Nam cũng như mong muốn của Việt Nam là tăng tỷ lệ nội địa hóa. Do đó, hai bên đang có mục tiêu giống nhau nên đây sẽ là cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản thúc đẩy hợp tác, cùng phát triển, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Qua đó thu hút nhiều đầu tư FDI hơn nữa tới thị trường Việt Nam". Ông Takeo Nakajima - Trưởng đại diện JETRO tại Việt Nam.

Theo chia sẻ của không ít doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, nếu họ có dự định mở rộng nhà máy sản xuất nhưng linh phụ kiện đáp ứng cho quy mô mở rộng chỉ dựa vào thị trường Việt Nam sẽ không đủ, còn nếu dựa vào nhập khẩu sẽ đẩy chi phí sản xuất của doanh nghiệp cao lên. Điều này khiến các doanh nghiệp phải cân nhắc, tính toán thận trọng về chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, có nhiều doanh nghiệp khi có ý định mở rộng sản xuất trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ khả năng đáp ứng các linh kiện cho nhu cầu mở rộng chuỗi sản xuất của mình thì họ sẽ kêu gọi doanh nghiệp đối tác đầu tư vào Việt Nam.

Trả lời phóng viên TBTCVN về các giải pháp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa tại Việt Nam, ông Takeo Nakajima cho rằng, việc cải thiện tỷ lệ nội địa hoá, trước hết là xuất phát từ chính sách, quy hoạch ngành của mỗi một quốc gia.

“Ở một số quốc gia thường có quy hoạch rất cụ thể. Ví dụ địa phương này tập trung sản xuất linh phụ kiện cho ô tô, địa phương khác chuyên sản xuất linh phụ kiện cho máy bay, thiết bị y tế. Tức là lập quy hoạch tập trung vào một lĩnh vực, một ngành nghề, một sản phẩm từ khâu đầu và khâu cuối vào một khu vực, tạo thành một cụm công nghiệp, ngành nghề. Điều này sẽ rất hữu ích cho doanh nghiệp FDI khi họ có thể biết và xem xét đầu tư vào cái gì đang cần, đang thiếu” - ông Takeo Nakajima chia sẻ.

Đối với Việt Nam, theo ông Takeo Nakajima, quy hoạch phát triển một số lĩnh vực công nghiệp vẫn còn phân tán, chưa có tính tổng thể để doanh nghiệp có định hướng đầu tư rõ ràng, cụ thể. Vì vậy, cần có chính sách, quy hoạch phát triển ngành mang tính đồng bộ, có hệ thống hơn, trong đó chú trọng tới chính sách thúc đẩy phát triển các cụm công nghiệp.

Việt Nam cần đưa ra các biện pháp, cách thức phù hợp để giúp cho việc cải thiện tỷ lệ nội địa hóa tốt hơn, như vừa thu hút đầu tư từ bên ngoài, vừa thúc đẩy phát triển doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, có chính sách phát triển doanh nghiệp nội địa nhằm tạo ra sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp nước ngoài, qua đó nâng cao chất lượng công nghệ, sản phẩm sản xuất.

Việt Nam vẫn là một trong những thị trường hấp dẫn với các công ty mẹ của Nhật Bản

Môi trường kinh doanh của Việt Nam có nhiều kỳ vọng hứa hẹn về tiềm năng tăng trưởng. Việt Nam vẫn là một trong những thị trường hấp dẫn, có nhiều tiềm năng với các công ty mẹ của Nhật Bản, xếp ở vị trí thứ 2 sau Hoa Kỳ. Hiện có khoảng hơn 2.000 doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, lớn nhất trong khối ASEAN.

Kết quả khảo sát gần đây của JETRO cho thấy, các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đánh giá, môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam có nhiều lợi thế so sánh. Đó là có tình hình chính trị xã hội ổn định, nhân lực phong phú và có trình độ, quy mô thị trường và khả năng tăng tưởng của thị trường tốt… Triển vọng lợi nhuận kinh doanh trong năm 2024 tại Việt Nam được các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao. Có tới 50,4% doanh nghiệp được hỏi trả lời triển vọng lợi nhuận kinh doanh trong năm nay sẽ cải thiện hơn năm 2023, trong khi tỷ lệ bình quân của khu vực ASEAN chỉ là 43,8%. Bên cạnh đó, 41,3% doanh nghiệp Nhật Bản cho rằng lợi nhuận kinh doanh sẽ đi ngang 2023, chỉ có 8,3% dự đoán tình hình lợi nhuận sẽ xấu đi.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn những rủi ro về môi trường đầu tư kinh doanh. Đó là thủ tục hành chính còn chưa minh bạch, thời gian thực hiện thủ tục dù đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn dài, gây mất chi phí cho doanh nghiệp. Tiếp đó là hạn chế về cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật còn chưa hoàn thiện… Nếu Việt Nam cải thiện được những rủi ro này thì sẽ thu hút được nhiều hơn nguồn đầu tư chất lượng cao của các doanh nghiệp Nhật Bản trong tương lai.

Hà My

Đọc thêm

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55 - 58% GDP; Việt Nam có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

(TBTCO) - Đối với Việt Nam, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD, tăng khoảng 30,3% so với năm 2021.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80