VietinBank tiến sát mục tiêu kế hoạch năm 2021

(TBTCO) - Số liệu kết quả kinh doanh đến 31/10/2021 cho thấy, các chỉ số quy mô và hiệu quả đều có sự tăng trưởng tích cực, VietinBank (CTG) đang tiến sát mục tiêu hoàn thành kế hoạch năm 2021 được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đề ra. Bên cạnh đó, VietinBank còn đi đầu trong việc dồn nguồn lực triển khai các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.
aa

Quy mô và hiệu quả tăng trưởng tích cực, thực chất

Giai đoạn vừa qua, làn sóng dịch bệnh COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp ở hầu hết các địa phương và ảnh hưởng mạnh, đa chiều tới kinh tế Việt Nam đồng thời tác động trực tiếp tới hệ thống ngân hàng. Phát huy vai trò là ngân hàng thương mại chủ lực, VietinBank đã chủ động, tích cực triển khai các biện pháp phòng chống dịch để bảo vệ nguồn lực và duy trì hoạt động kinh doanh liên tục.

Tại ĐHĐCĐ bất thường năm 2021 của VietinBank diễn ra ngày 3/11, ông Trần Minh Bình - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT VietinBank đã chia sẻ các thông tin liên quan đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng ở thời điểm hiện tại cũng như định hướng, kế hoạch phát triển trong thời gian tới. Theo đó, số liệu cập nhật hết tháng 10/2021 của Ngân hàng cho thấy xu hướng cải thiện ngày càng tốt hơn, các chỉ số quy mô và hiệu quả đều có sự tăng trưởng tích cực.

Tính đến 31/10/2021, tổng tài sản VietinBank tăng 8,1%; tổng nguồn vốn tăng gần 8%, trong đó nguồn vốn thị trường 1 tăng 10%; tín dụng tăng 8%; ROA đạt 1,3%; ROE đạt 16,1%. Các chỉ tiêu tuân thủ đạt tốt, LDR đạt 82,86%, CAR đạt hơn 9%. Điều này cho thấy VietinBank đang bám sát kế hoạch năm, đảm bảo tiến độ hoàn thành các chỉ tiêu ĐHĐCĐ giao.

“Kết quả đạt được là nhờ quá trình tích lũy, nỗ lực của toàn hệ thống VietinBank trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với hiệu quả thực chất, phù hợp với năng lực vốn và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHNN; thực hiện hiệu quả các biện pháp cải thiện cơ cấu tài sản sinh lời; gia tăng CASA và tiền gửi có kỳ hạn ngắn nhằm tiết kiệm chi phí vốn; cải thiện mạnh mẽ sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; nâng cao hiệu quả công tác quản lý cân đối vốn, quản trị tài chính hiệu quả; nâng cao năng suất lao động” - ông Trần Minh Bình khẳng định.

VietinBank tiến sát mục tiêu kế hoạch năm 2021

Tổng số tiền VietinBank giảm lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng dự kiến cả năm 2021 khoảng 7.000 - 8.000 tỷ đồng. Ảnh: T.L

Kiên trì tăng trưởng bền vững

Cần khẳng định rằng với vai trò là ngân hàng thương mại lớn, chủ lực, trụ cột, VietinBank tiếp tục có các biện pháp hỗ trợ thiết thực, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng từ việc giảm lãi suất cho vay và phí dịch vụ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo quy định của NHNN, đưa ra các gói giải pháp hỗ trợ giúp khách hàng khắc phục khó khăn, duy trì hoạt động và phục hồi, phát triển qua giai đoạn đại dịch COVID-19.

Ông Trần Minh Bình cho biết: “Lũy kế 9 tháng năm 2021, tổng số tiền VietinBank giảm lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng khoảng 6.000 tỷ đồng. Dự kiến cả năm, con số này khoảng 7.000 - 8.000 tỷ đồng”.

Trước bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và diễn biến dịch COVID-19 vẫn còn phức tạp tiềm ẩn nguy cơ tăng nợ xấu cao, VietinBank đang tăng cường các giải pháp kiểm soát chất lượng nợ, xây dựng những kịch bản sẵn sàng để ứng phó với các khó khăn trong thời gian tới. Đặc biệt, VietinBank chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro để tăng tỷ lệ bao phủ nợ xấu, đảm bảo có bộ đệm dự phòng cho các biến cố của nền kinh tế. Dự kiến cuối năm 2021, VietinBank kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,4%, tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 169%. Chi phí trích lập dự phòng rủi ro dự kiến 17.000 tỷ đồng.

Chủ tịch HĐQT VietinBank cho biết: Trong những tháng còn lại của năm, ngân hàng sẽ quyết liệt triển khai các giải pháp cốt lõi, như kiểm soát chi phí vốn, tăng tỷ lệ CASA trong tổng huy động; đồng thời thúc đẩy hoạt động thu ngoài lãi; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sinh lời tốt cho ngân hàng như SME, bán lẻ,… đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn.

“Nền kinh tế Việt Nam đang bước sang giai đoạn phục hồi với không ít khó khăn thách thức, với tinh thần cầu thị, đánh giá đúng tình hình, VietinBank đã có kế hoạch và các giải pháp trọng tâm nhằm chủ động vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, nỗ lực hết mình, đổi mới, sáng tạo để tiếp tục xây dựng và phát triển hệ thống VietinBank mạnh mẽ, bền vững. Ban Lãnh đạo VietinBank sẽ nỗ lực cao nhất để đổi mới toàn diện, nâng cao năng lực quản trị, điều hành đưa VietinBank chinh phục những đỉnh cao thành công mới; giữ vững vị thế và duy trì năng lực phát triển hàng đầu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đảm bảo lợi ích tối đa, lâu dài cho Quý cổ đông” , ông Trần Minh Bình nhấn mạnh./.

Bên cạnh việc bảo vệ nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả, VietinBank là một trong những ngân hàng tiên phong thực hiện có hiệu quả các chương trình an sinh xã hội, đặc biệt là chung tay cùng Chính phủ và cộng đồng trong việc phòng, chống và đẩy lùi dịch COVID-19. Từ khi dịch COVID-19 bùng phát đến nay, VietinBank đã trao tặng hơn 220 tỷ đồng cho công tác phòng, chống dịch trên cả nước.
Khánh Ngân

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.195 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến trái chiều.
Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

(TBTCO) - Vietcombank chính thức đồng hành cùng Fan Meeting đầu tiên của Quán Nhà Haha, mang đến hàng nghìn cơ hội sở hữu vé và những trải nghiệm đặc biệt cho khách hàng thông qua chuỗi chương trình khuyến mại dành riêng cho khách hàng Vietcombank.
Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 10/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.629 đồng, giảm 7 đồng so với cuối tuần trước; tỷ giá USD tại ngân hàng giảm mạnh, trái chiều với mức tăng 220 đồng trên thị trường tự do. Chỉ số DXY chốt tuần ở 102,22 điểm, tăng 0,28%, cao nhất kể từ đầu tháng 4/2025. Thị trường đang chờ báo cáo lạm phát của Mỹ tuần tới.
Giá vàng hôm nay ngày 10/10: Vàng miếng tăng mạnh lên 144,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 10/10: Vàng miếng tăng mạnh lên 144,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng lên 144,8 triệu đồng/lượng. Trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới cũng tăng hơn 60 USD/ounce trong 24 giờ qua.
DBV và CMC CS hợp tác toàn diện, kết nối công nghệ và bảo hiểm để gia tăng giá trị cho khách hàng

DBV và CMC CS hợp tác toàn diện, kết nối công nghệ và bảo hiểm để gia tăng giá trị cho khách hàng

(TBTCO) - Ngày 9/10/2026, tại trụ sở Công ty cổ phần Tập đoàn Bảo hiểm DBV (DBV), DBV và Công ty TNHH An ninh An toàn thông tin CMC (CMC Cyber Security - CMC CS) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, mở ra cơ hội kết nối thế mạnh của hai tập đoàn trong lĩnh vực bảo hiểm và công nghệ nhằm mang đến những giải pháp thiết thực và tối ưu hơn cho khách hàng.
Ngân hàng phụ thuộc vốn thị trường 2, nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp chịu sức ép từ "thước đo" mới

Ngân hàng phụ thuộc vốn thị trường 2, nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp chịu sức ép từ "thước đo" mới

Theo SHS Research, các ngân hàng có LDR sát trần 85% và LDR tính lại tăng ít sẽ có thêm động lực đăng ký áp dụng sớm LCR/NSFR. Trong khi đó, nhóm phụ thuộc nhiều vào vốn liên ngân hàng ngắn hạn, hoặc nắm giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp sẽ chịu sức ép tái cơ cấu tài sản, nguồn vốn để đáp ứng chuẩn mới.
Tuổi nào thì rẽ hướng sự nghiệp?

Tuổi nào thì rẽ hướng sự nghiệp?

(TBTCO) - Có người bắt đầu một hành trình mới khi đã ngoài 30 tuổi. Có người quyết định chuyển nghề ở tuổi 50, khi nhiều người đã nghĩ đến sự ổn định. Cũng có người lựa chọn con đường đó ngay từ khi còn là sinh viên. Nhưng giữa một thị trường lao động liên tục thay đổi, tuổi tác liệu có thực sự là rào cản?
Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 144,300
Hà Nội - PNJ 141,300 144,300
Đà Nẵng - PNJ 141,300 144,300
Miền Tây - PNJ 141,300 144,300
Tây Nguyên - PNJ 141,300 144,300
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 144,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 14,480
Miếng SJC Nghệ An 14,180 14,480
Miếng SJC Thái Bình 14,180 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 14,430
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 14,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 14,483
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 1,444
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 1,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 141,881
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 107,636
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 97,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 87,572
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 83,702
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 59,912
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cập nhật: 11/10/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17535 17808 18400
CAD 17618 17891 18517
CHF 30522 30898 31550
CNY 0 3824 3921
EUR 28358 28574 29663
GBP 33439 33827 34771
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14205 14798
SGD 19661 19942 20525
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Cập nhật: 11/10/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30