Vượt ngưỡng "triệu tỷ" tổng tài sản, ACB tăng gấp đôi trích lập dự phòng để quản trị rủi ro

(TBTCO) - Kết thúc năm 2025, Ngân hàng ACB ghi nhận một bức tranh kinh doanh vừa thận trọng vừa đầy tham vọng. Trong khi tổng tài sản vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, gia nhập nhóm rất ít các ngân hàng có quy mô tài sản “triệu tỷ”, thì chi phí trích lập dự phòng tín dụng tăng hơn gấp đôi so với năm 2024 lại là yếu tố “ăn mòn” lợi nhuận trước thuế, kéo mức này còn khoảng 19,5 nghìn tỷ đồng trong cả năm.
aa
Ngân hàng ACB đặt mục tiêu lãi 23 nghìn tỷ đồng, tiếp tục chia cổ tức tỷ lệ 25% ACB lấn sân bảo hiểm phi nhân thọ, đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 50%/năm ACB vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, củng cố “bộ đệm” cho chu kỳ phát triển bền vững

Tính đến cuối năm 2025, tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB - mã Ck: ACB) chính thức vượt ngưỡng 1.025.850 tỷ đồng, tăng gần 19% so với cuối 2024 và gấp đôi sau 5 năm, đánh dấu cột mốc quan trọng về quy mô của một ngân hàng lớn trong hệ thống tài chính Việt Nam.

ACB là một trong số ít ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân có tài sản vượt mốc này, cùng với các ngân hàng tư nhân khác như: MB, Techcombank, một minh chứng cho khả năng thu hút vốn và mở rộng hoạt động quy mô lớn. Mặt khác, việc gia nhập nhóm ngân hàng có tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng đặt ACB vào một mặt bằng hoàn toàn khác về yêu cầu quản trị. Quy mô lớn hơn đồng nghĩa với chu kỳ rủi ro dài hơn, độ trễ tín dụng lớn hơn và yêu cầu bộ đệm an toàn cao hơn.

Cách tiếp cận này cho thấy ACB chủ động nâng chuẩn an toàn, phù hợp với giai đoạn ngân hàng bước sang ngưỡng quy mô mới, thay vì tối ưu lợi nhuận ngắn hạn.

Vượt ngưỡng
Vượt ngưỡng "triệu tỷ” tổng tài sản, ACB tăng gấp đôi trích lập dự phòng để quản trị rủi ro. Ảnh minh họa.
Tại cuộc gặp gỡ nhà đầu tư ngày 28/1 vừa qua, Ban lãnh đạo ACB thẳng thắn nhìn nhận điều này. Trả lời câu hỏi về nguyên nhân chi phí dự phòng tăng mạnh, đại diện ngân hàng cho biết, năm 2025, ACB trích lập dự phòng khoảng 3.300 tỷ đồng, chủ yếu liên quan đến việc thực hiện Nghị định số 86/2024/NĐ-CP. Sau khi các quy định được Ngân hàng Nhà nước làm rõ, ngân hàng lựa chọn trích lập đầy đủ để củng cố bộ đệm rủi ro, thay vì giãn sang các năm sau.

Dữ liệu cho thấy, dù chi phí dự phòng tăng cao, tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ACB đã giảm xuống 0,97%, mức thấp nhất kể từ năm 2023 và nằm trong nhóm thấp nhất toàn ngành.

Đồng thời, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng mạnh lên 114%, từ mức khoảng 78% cuối năm 2024.

Tại cuộc gặp gỡ nhà đầu tư ngày 28/1 vừa qua, Ban lãnh đạo ACB nhấn mạnh việc giảm nợ xấu không phải là yếu tố ngắn hạn. Mục tiêu của ACB không phải là giữ nợ xấu ở một con số tuyệt đối bằng mọi giá, mà là kiểm soát nợ xấu ở mức thấp, phù hợp với chu kỳ tín dụng và khẩu vị rủi ro thận trọng của ngân hàng.

Theo góc nhìn phân tích, đây là cách tiếp cận mang tính chu kỳ, thay vì “đánh bóng” chỉ số tại một thời điểm. Việc nâng LLR lên trên 100% giúp ACB tạo dư địa linh hoạt cho các năm tới, đặc biệt khi công tác thu hồi nợ được đẩy mạnh.

Một điểm quan trọng được giới phân tích lưu ý đó là, lợi nhuận cốt lõi của ACB không suy yếu. Năm 2025, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng đạt khoảng 22.900 tỷ đồng, tăng so với năm trước, cho thấy năng lực tạo lợi nhuận từ hoạt động chính vẫn ổn định.

Ban lãnh đạo ACB cũng thừa nhận tác động ngắn hạn của việc trích lập mạnh tay lên ROE (tỷ số lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu), nhưng xem đây là bước đi cần thiết.

“Việc tăng mạnh trích lập trong năm 2025 là bước củng cố bộ đệm rủi ro. Khi bộ đệm đã đủ dày, ngân hàng sẽ có dư địa hỗ trợ khả năng sinh lời trong năm 2026 nếu công tác thu hồi nợ được triển khai hiệu quả" - lãnh đạo ACB nhận định.

Từ góc nhìn phân tích, đây là chiến lược phòng thủ chủ động, chấp nhận làm “mỏng” lợi nhuận trong ngắn hạn để đổi lấy tính bền vững và khả năng bật lại khi chu kỳ kinh tế thuận lợi hơn.

Rõ ràng, ACB năm 2025 không chỉ là câu chuyện “1 triệu tỷ đồng tài sản”, mà còn là bài học về điều hành thận trọng trong điều kiện bất ổn, chấp nhận ảnh hưởng ngắn hạn lên lợi nhuận để củng cố an toàn tài sản và mở rộng quy mô một cách bền vững. Đây là bệ phóng chiến lược, chứ không đơn thuần là “phòng thủ thuần túy”, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của ngân hàng./.

Tú Anh

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17944 18218 18797
CAD 18219 18495 19114
CHF 31694 32074 32727
CNY 0 3840 3940
EUR 29590 29812 30895
GBP 34479 34871 35812
HKD 0 3204 3407
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15672
SGD 19910 20192 20762
THB 708 771 825
USD (1,2) 25897 0 0
USD (5,10,20) 25937 0 0
USD (50,100) 25966 25980 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,020 26,020 26,400
USD(1-2-5) 24,980 - -
USD(10-20) 24,980 - -
EUR 29,685 29,709 31,115
JPY 161.28 161.57 171.34
GBP 34,710 34,804 35,998
AUD 18,152 18,218 18,918
CAD 18,431 18,490 19,173
CHF 32,003 32,103 33,057
SGD 20,062 20,124 20,910
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,273 3,283 3,421
KRW 17.08 17.81 19.38
THB 757.04 766.39 820.51
NZD 15,081 15,221 15,670
SEK - 2,714 2,810
DKK - 3,981 4,122
NOK - 2,710 2,806
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,991.58 - 6,762
TWD 733.44 - 888.48
SAR - 6,860.82 7,226.68
KWD - 83,040 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,010 26,020 26,400
EUR 29,721 29,840 31,035
GBP 34,719 34,858 35,891
HKD 3,273 3,286 3,403
CHF 31,859 31,987 32,916
JPY 161.73 162.38 170.28
AUD 18,154 18,227 18,824
SGD 20,134 20,215 20,812
THB 774 777 814
CAD 18,444 18,518 19,107
NZD 15,171 15,717
KRW 17.70 19.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25970 25970 26380
AUD 18133 18233 19158
CAD 18407 18507 19521
CHF 31947 31977 33563
CNY 3819.9 3844.9 3980.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29787 29817 31542
GBP 34798 34848 36609
HKD 0 3355 0
JPY 161.93 162.43 172.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15197 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20075 20205 20926
THB 0 737.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,020 26,070 26,400
USD20 25,970 26,070 26,715
USD1 24,217 26,070 26,765
AUD 18,193 18,293 19,414
EUR 29,610 29,710 31,391
CAD 18,370 18,470 19,789
SGD 20,167 20,317 20,891
JPY 162.64 164.14 169.8
GBP 34,717 34,867 35,957
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 774 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80