ACB vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, củng cố “bộ đệm” cho chu kỳ phát triển bền vững

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, ACB ghi nhận lợi nhuận 19.538,7 tỷ đồng; cùng tổng tài sản chính thức vượt mốc 1 triệu tỷ đồng; tín dụng tăng 18,6%, trong khi nợ xấu được kiểm soát ở 0,97%, thấp nhất kể từ năm 2023. Ngân hàng cũng chủ động nâng trích lập dự phòng lên hơn 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 107,6%, củng cố nền tảng an toàn cho chu kỳ phát triển bền vững tiếp theo.
aa
Ngân hàng ACB đặt mục tiêu lãi 23 nghìn tỷ đồng, tiếp tục chia cổ tức tỷ lệ 25% ACB lấn sân bảo hiểm phi nhân thọ, đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 50%/năm
Chứng khoán ACB duy trì đà tăng lợi nhuận trong năm 2025

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB - mã Ck: ACB) vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2025 và cả năm 2025.

Báo cáo tài chính do ACB công bố cho thấy, trong quý IV/2025, hoạt động kinh doanh cốt lõi của ACB ghi nhận sự ổn định, với thu nhập lãi thuần đạt 7.093,3 tỷ đồng, tăng 0,2% cùng kỳ; tổng thu nhập hoạt động trong quý đạt 8.206 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế của quý IV/2025 đạt 3.467 tỷ đồng, phần lớn do ngân hàng chủ động đẩy mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên tới 1.956,6 tỷ đồng, gấp hơn 13 lần so với quý IV/2024.

Ngân hàng ACB vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản
Một số chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh của ACB năm 2025. Nguồn: ACB.

Tính chung cả năm 2025, thu nhập lãi thuần của ACB đạt 26.905,7 tỷ đồng; cùng sự bứt phá của các mảng thu nhập ngoài lãi như: kinh doanh ngoại hối (tăng 47,9%) và chứng khoán kinh doanh (tăng 136,7%)... Tổng thu nhập hoạt động cả năm vẫn duy trì đà tăng trưởng 0,8%, đạt 33.797,8 tỷ đồng.

Kết thúc năm 2025, ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 19.538,7 tỷ đồng, chủ yếu do ngân hàng ưu tiên củng cố "bộ đệm" an toàn khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng cả năm được trích lập lên tới 3.334,7 tỷ đồng, tăng mạnh 107,6%, tức tăng hơn 1.700 tỷ đồng so với năm 2024; đồng thời, tương đương mức cao kỷ lục từng ghi nhận năm 2021.

Bên cạnh đó, kết thúc năm 2025, tổng tài sản của ACB chính thức vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đạt 1,026 triệu tỷ đồng, gấp đôi so với 5 năm trước. Cột mốc này không chỉ phản ánh quy mô tăng trưởng, mà còn cho thấy quá trình tích lũy nội lực bền bỉ, nhất quán với chiến lược phát triển thận trọng, lấy chất lượng làm trọng tâm trong suốt hơn ba thập kỷ hoạt động của ngân hàng.

Dư nợ tín dụng ACB đến cuối năm 2025 đạt 689 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với đầu năm. Trong cấu trúc tăng trưởng đó, cho vay doanh nghiệp tiếp tục là động lực chủ đạo với mức tăng 25,5%, tập trung vào các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế như: thương mại, chế biến chế tạo.

Đón đầu các động lực tăng trưởng mới, ACB đẩy mạnh mở rộng vào nhóm doanh nghiệp có hệ sinh thái lớn và nắm bắt tốt làn sóng FDI, điểm sáng của nền kinh tế năm 2025.

Chiến lược này nhanh chóng mang lại “trái ngọt”: cho vay doanh nghiệp lớn tăng 62%, cho vay FDI bứt phá vượt trội với 170%. Đồng thời, phân khúc cho vay mua nhà ghi nhận những tín hiệu phục hồi tích cực.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Chia sẻ về định hướng điều hành, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB nhấn mạnh, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, điều quan trọng với ngân hàng không chỉ là tăng trưởng, mà là duy trì chất lượng tăng trưởng và năng lực thích ứng dài hạn. ACB kiên định với chiến lược củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực quản trị rủi ro để sẵn sàng cho những chu kỳ phát triển tiếp theo.

Song song với tăng trưởng quy mô, ACB tiếp tục duy trì chất lượng tài sản ở mức cao. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm được kiểm soát ở mức 0,97%, thấp nhất kể từ năm 2023, đưa ACB tiếp tục nằm trong nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản tốt nhất hệ thống, trong bối cảnh mặt bằng rủi ro toàn ngành có xu hướng gia tăng.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) được cải thiện mạnh, đạt khoảng 114%, so với mức 78% cuối năm 2024, qua đó, nâng cao đáng kể sức chống chịu trước các biến động vĩ mô.

Song song đó, ngân hàng duy trì kỷ luật chặt chẽ trong quản trị thanh khoản và an toàn vốn. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 24,4%, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng quy định. Tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi (LDR) 79%, đảm bảo dư địa tăng trưởng tín dụng bền vững. Việc chuyển đổi sang Thông tư 14/2025/TT-NHNN từ tháng 12/2025 giúp tỷ lệ an toàn vốn (CAR) hợp nhất dự kiến trên 12%, cao hơn đáng kể so với yêu cầu tối thiểu.

ACB xác định phát triển bền vững là một phần cốt lõi trong chiến lược kinh doanh, không tách rời hoạt động tài chính. Giai đoạn 2025 - 2030, ngân hàng triển khai mô hình phát triển theo hướng tạo giá trị chung (Creating Shared Value - CSV), tập trung vào ba trụ cột: sức khỏe, giáo dục, môi trường./.

Trong chiến lược phát triển dài hạn, ACB tiếp tục củng cố vai trò của các công ty thành viên nhằm hoàn thiện hệ sinh thái tài chính toàn diện. Năm 2025, nhóm công ty con đóng góp khoảng 7% lợi nhuận toàn hệ thống.

Trong đó, Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS) là điểm sáng với lợi nhuận trước thuế hơn 1,2 nghìn tỷ đồng, tăng 46% so với năm 2024 nhờ tăng trưởng đồng đều ở các mảng đầu tư, môi giới và cho vay ký quỹ. Các đơn vị khác như: Công ty TNHH MTV Cho thuê Tài chính Ngân hàng Á châu (ACB Leasing - ACBL), Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản ACB (ACBA), Công ty Quản lý Quỹ ACB (ACBC) tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Việc dự kiến thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong thời gian tới được kỳ vọng sẽ hoàn thiện hơn nữa hệ sinh thái tài chính của ACB./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

(TBTCO) - Dù lợi nhuận ngân hàng tiếp tục vượt kỳ vọng, SSI Research vẫn giữ quan điểm thận trọng khi chất lượng tài sản suy giảm rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97%, cao nhất trong quý II kể từ năm 2020, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 83%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17908 18182 18759
CAD 18183 18459 19077
CHF 31637 32017 32665
CNY 0 3840 3940
EUR 29542 29763 30846
GBP 34420 34812 35752
HKD 0 3199 3401
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15050 15638
SGD 19875 20157 20732
THB 706 769 822
USD (1,2) 25858 0 0
USD (5,10,20) 25898 0 0
USD (50,100) 25926 25940 26310
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,600 29,624 31,027
JPY 160.65 160.94 170.66
GBP 34,616 34,710 35,908
AUD 18,117 18,182 18,868
CAD 18,378 18,437 19,118
CHF 31,902 32,001 32,953
SGD 20,008 20,070 20,855
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,264 3,274 3,412
KRW 17.02 17.75 19.3
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,035 15,175 15,629
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,970 4,110
NOK - 2,700 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.46 - 6,744.07
TWD 732.74 - 887.66
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,010 26,020 26,400
EUR 29,721 29,840 31,035
GBP 34,719 34,858 35,891
HKD 3,273 3,286 3,403
CHF 31,859 31,987 32,916
JPY 161.73 162.38 170.28
AUD 18,154 18,227 18,824
SGD 20,134 20,215 20,812
THB 774 777 814
CAD 18,444 18,518 19,107
NZD 15,171 15,717
KRW 17.70 19.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25970 25970 26380
AUD 18133 18233 19158
CAD 18407 18507 19521
CHF 31947 31977 33563
CNY 3819.9 3844.9 3980.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29787 29817 31542
GBP 34798 34848 36609
HKD 0 3355 0
JPY 161.93 162.43 172.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15197 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20075 20205 20926
THB 0 737.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,020 26,070 26,400
USD20 25,970 26,070 26,715
USD1 24,217 26,070 26,765
AUD 18,193 18,293 19,414
EUR 29,610 29,710 31,391
CAD 18,370 18,470 19,789
SGD 20,167 20,317 20,891
JPY 162.64 164.14 169.8
GBP 34,717 34,867 35,957
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 774 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80