Ngân hàng ACB đặt mục tiêu lãi 23 nghìn tỷ đồng, tiếp tục chia cổ tức tỷ lệ 25%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, ngân hàng ACB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 23.000 tỷ đồng, tăng 9,5% cùng kỳ. Ngân hàng dự kiến tiếp tục trả cổ tức bằng tiền và cổ phiếu với tỷ lệ 25%, tương tự hai năm trước đó.
aa
Tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, năm 2024 ngân hàng ACB và VIB làm ăn thế nào? Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ ACB tiên phong tung gói vay “Ngôi nhà đầu tiên” ưu đãi cho người trẻ sau phiên họp Chính phủ

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB - Mã: ACB) vừa công bố tài liệu đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025. Đại hội dự kiến được tổ chức vào ngày 8/4 tại TP. HCM. Ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền tham dự họp đại hội đồng cổ đông là ngày 3/3/2024.

Phấn đấu đưa lợi nhuận trước thuế lên 23.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên sẽ thảo luận và xem xét các tờ trình về báo cáo của hội đồng quản trị, ban kiểm soát; phương án phân phối lợi nhuận 2024 và kế hoạch lợi nhuận, phân phối lợi nhuận 2025, mức thù lao và ngân sách hoạt động của hội đồng quản trị và ban kiểm soát năm 2025 và một số nội dung trong thẩm quyền được đề xuất.

Về kế hoạch kinh doanh, năm 2025, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 23.000 tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm ngoái. Như vậy, hai năm liên tiếp ACB duy trì đà tăng lợi nhuận chậm lại, thay vì tăng trưởng hai con số trong giai đoạn dài trước đó từ năm 2016-2023.

Cũng trong năm 2025, ACB đặt mục tiêu tổng tài sản tăng 14% ước đạt 984.967 tỷ đồng; tiền gửi khách hàng và giấy tờ kỳ vọng đạt 728.409 tỷ đồng; cho vay khách hàng là 673.596 tỷ đồng, tăng 16%.

Cùng với đó, tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 2%, thấp hơn tỷ lệ năm 2024 (1,49%).

Trước đó, kết quả hoạt động năm 2024 cho thấy ACB tiếp tục tăng trưởng tốt về quy mô vốn và tài sản, đảm bảo các chỉ số hoạt động và về hiệu quả ở mức hợp lý cũng như có cải thiện so với năm trước và tuân thủ các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ACB chỉ đạt 95% chỉ tiêu tổng lợi nhuận trước thuế, tương ứng đạt 21,0 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7% cùng kỳ.

Ngân hàng ACB đặt mục tiêu lãi 23 nghìn tỷ đồng, tiếp tục chia cổ tức tỷ lệ 25%
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

NIM (biên lãi ròng) năm 2024 của ACB đạt 3,59%, giảm 27 điểm cơ bản cùng kỳ. Giới phân tích cho rằng, việc co hẹp NIM do lợi suất cho vay thấp hơn trong bối cảnh cạnh tranh cao giữa các ngân hàng và nhu cầu tín dụng bán lẻ yếu trong khi lãi suất tiền gửi đã tăng kể từ nửa cuối năm 2024.

Tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2024 ở mức 1,5%, song quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 tăng mạnh 47% so với cuối năm 2023, đạt 8.650 tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức 77,92%, thấp nhất trong gần 10 năm trở lại đây.

Trả cổ tức năm 2024 bằng tiền và cổ phiếu, tỷ lệ 25%

Ngân hàng cũng lên kế hoạch chia cổ tức năm 2024 từ nguồn lợi nhuận giữ lại của năm 2024 và còn lại từ các năm trước chưa chia gần 23.634 tỷ đồng. Theo đó, Hội đồng quản trị ACB dự kiến chia cổ tức tỷ lệ 25%, trong đó 15% bằng cổ phiếu và 10% bằng tiền mặt, tương ứng với gần 11.167 tỷ đồng; trong đó, số tiền để sử dụng chia cổ tức bằng cổ phiếu gần 6.700 tỷ đồng. Lợi nhuận còn lại là 12.467 tỷ đồng.

Tăng vốn điều lệ lên trên 51.000 tỷ đồng

Với mức chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu và 10% bằng tiền mặt, ACB sẽ tăng vốn điều lệ từ 44.666,6 tỷ đồng lên 51.366,6 tỷ đồng, tăng thêm gần 6.700 tỷ đồng, tương ứng với hơn gần 670 triệu cổ phần phát hành thêm. Thời gian dự kiến hoàn thành kế hoạch phát hành tăng vốn điều lệ là quý III/2025.

Tỷ lệ cổ tức này cũng được ngân hàng dự kiến tiếp tục áp dụng cho năm 2025 từ nguồn lợi nhuận giữ lại các năm chưa chia, tương ứng gần 12.842 tỷ đồng. Như vậy, lợi nhuận còn lại dự kiến còn khoảng 12.245 tỷ đồng.

Ngân hàng cho biết việc tăng vốn điều lệ là hết sức cần thiết nhằm thêm nguồn vốn trung dài hạn cho các hoạt động cấp tín dụng, đầu tư trái phiếu chính phủ.

Đồng thời, có thêm nguồn vốn để xây dựng văn phòng làm việc, cải tạo, sửa chữa, di dời trụ sở kênh phân phối; đầu tư vào các dự án chiến lược của ngân hàng; nâng cao năng lực tài chính, thích ứng với biến động của thị trường.

Ngân hàng ACB đặt mục tiêu lãi 23 nghìn tỷ đồng, tiếp tục chia cổ tức tỷ lệ 25%
Ngân hàng ACB đặt mục tiêu lãi 23 nghìn tỷ đồng, tiếp tục chia cổ tức tỷ lệ 25%. Ảnh tư liệu.

Để thuận tiện cho quá trình thực hiện phương án tăng vốn điều lệ từ cổ tức bằng cổ phần phổ thông, phát hành, đăng ký lưu ký bổ sung và niêm yết bổ sung cổ phiếu nêu trên, kiến nghị đại hội đồng cổ đông ủy quyền cho hội đồng quản trị bổ sung hoặc sửa đổi phương án tăng vốn điều lệ từ cổ tức bằng cổ phần phổ thông, phát hành, đăng ký lưu ký bổ sung và niêm yết bổ sung cổ phiếu phát hành thêm theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hoặc cho mục đích tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan.

Cùng với đó, thực hiện các thủ tục cần thiết để đăng ký phát hành cổ phiếu với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và giải trình; lựa chọn thời điểm thích hợp để chốt danh sách cổ đông thực hiện quyền và triển khai phát hành cho phù hợp. Tiến hành các thủ tục cần thiết để đăng ký lưu ký và thay đổi đăng ký niêm yết cổ phiếu sau khi phát hành.

Thực hiện các thủ tục để sửa đổi nội dung về vốn điều lệ tại giấy phép thành lập và hoạt động; sửa đổi các điều liên quan đến vốn điều lệ, cổ phần, cổ phiếu trong điều lệ của ngân hàng sau khi hoàn tất đợt phát hành và phù hợp với kết quả phát hành.

Ngoài những nội dung trên, ACB cũng dự kiến trình đại hội thông qua việc niêm yết trái phiếu ra công chúng trên hệ thống giao dịch chứng khoán; sửa đổi, bổ sung điều lệ, quy chế quản trị nội bộ ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17944 18218 18797
CAD 18219 18495 19114
CHF 31694 32074 32727
CNY 0 3840 3940
EUR 29590 29812 30895
GBP 34479 34871 35812
HKD 0 3204 3407
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15672
SGD 19910 20192 20762
THB 708 771 825
USD (1,2) 25897 0 0
USD (5,10,20) 25937 0 0
USD (50,100) 25966 25980 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,020 26,020 26,400
USD(1-2-5) 24,980 - -
USD(10-20) 24,980 - -
EUR 29,685 29,709 31,115
JPY 161.28 161.57 171.34
GBP 34,710 34,804 35,998
AUD 18,152 18,218 18,918
CAD 18,431 18,490 19,173
CHF 32,003 32,103 33,057
SGD 20,062 20,124 20,910
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,273 3,283 3,421
KRW 17.08 17.81 19.38
THB 757.04 766.39 820.51
NZD 15,081 15,221 15,670
SEK - 2,714 2,810
DKK - 3,981 4,122
NOK - 2,710 2,806
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,991.58 - 6,762
TWD 733.44 - 888.48
SAR - 6,860.82 7,226.68
KWD - 83,040 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,010 26,020 26,400
EUR 29,721 29,840 31,035
GBP 34,719 34,858 35,891
HKD 3,273 3,286 3,403
CHF 31,859 31,987 32,916
JPY 161.73 162.38 170.28
AUD 18,154 18,227 18,824
SGD 20,134 20,215 20,812
THB 774 777 814
CAD 18,444 18,518 19,107
NZD 15,171 15,717
KRW 17.70 19.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25970 25970 26380
AUD 18133 18233 19158
CAD 18407 18507 19521
CHF 31947 31977 33563
CNY 3819.9 3844.9 3980.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29787 29817 31542
GBP 34798 34848 36609
HKD 0 3355 0
JPY 161.93 162.43 172.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15197 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20075 20205 20926
THB 0 737.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,020 26,070 26,400
USD20 25,970 26,070 26,715
USD1 24,217 26,070 26,765
AUD 18,193 18,293 19,414
EUR 29,610 29,710 31,391
CAD 18,370 18,470 19,789
SGD 20,167 20,317 20,891
JPY 162.64 164.14 169.8
GBP 34,717 34,867 35,957
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 774 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80