Xu hướng tăng lãi suất huy động khó cản?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm nửa đầu tháng 2/2025 tại nhiều ngân hàng cho thấy, sau khi tăng lãi suất chớp nhoáng trước và ngay sau Tết, nhiều ngân hàng giảm lãi suất huy động ở kỳ hạn ngắn. Tuy nhiên, xu hướng tăng lãi suất huy động năm nay khó cản trước nhiều nhân tố tạo áp lực, đẩy tăng mặt bằng lãi suất.
aa
Xu hướng tăng lãi suất huy động khó cản?
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Thống kê cho thấy trong tháng 1/2025 trước khi nghỉ Tết, có 12 ngân hàng tăng lãi suất huy động với mức tăng từ 0,1 - 0,9%/năm và 7 ngân hàng giảm lãi suất đầu vào với mức giảm từ 0,1 - 0,75%/năm. Sau kỳ nghỉ Tết dài ngày, nhiều nhà băng đã giảm lãi suất huy động ở kỳ hạn ngắn sau khi tăng lãi suất chớp nhoáng trước Tết và ngày khai xuân Ất Tỵ.

Nhiều ngân hàng giảm lãi suất huy động sau Tết

Khảo sát của TBTCVN về sự biến động lãi suất những tuần đầu sau Tết Nguyên đán cho thấy, so với đầu năm, nhiều ngân hàng giảm lãi suất huy động ở kỳ hạn ngắn. Đơn cử, tại kỳ hạn 1 tháng, Techcombank giảm lãi suất 0,2% xuống 3,2%/năm; SeAbank giảm lãi suất 0,45% xuống 2,95%/năm; BacABank sau khi nhích tăng đầu năm thì mới đây giảm lãi suất còn 3,6%/năm.

Ở kỳ hạn 3 tháng, Techcombank và BacABank tiếp tục góp mặt trong số các ngân hàng giảm nhẹ lãi suất huy động sau khi điều chỉnh tăng đầu năm, đồng lượt giảm 0,1% xuống còn 3,5%/năm và

3,9%/năm. Một số nhà băng khác giảm nhẹ lãi suất kỳ hạn này có thể kể đến như: TPBank (giảm 0,2% xuống còn 3,8%/năm); MSB (giảm còn 3,2%/năm sau khi tăng lên 3,6%/năm đầu tháng 2); Kienlongbank (2,8%/năm).

Trong khi đó, một số ngân hàng có quy mô nhỏ tăng lãi suất đầu năm. Theo đó, NCB tăng 0,2% lên 3,9%/năm kỳ hạn 1 tháng. Ở kỳ hạn 3 tháng, VietBank tăng 0,2% lên 4,1%/năm; NCB tăng 0,1% lên 4,1%/năm. Đáng chú ý, ABBank đã có 2 lần tăng lãi suất chỉ trong hơn 1 tháng đầu năm lên 3,8%/năm, với bước nhảy 0,2%/lần.

Trước đó, trong tháng 1, thời điểm trước Tết ghi nhận 12 ngân hàng tăng lãi suất huy động với mức tăng từ 0,1 - 0,9%/năm. Xu hướng tăng lãi suất huy động diễn ra chủ yếu ở các ngân hàng thương mại quy mô nhỏ do các nhà băng chuẩn bị nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn, chi trả trước Tết Nguyên đán và phục vụ cho kế hoạch tín dụng trong năm nay. Đến khi ra Tết, nhu cầu về vốn có phần chững lại.

Theo tổng hợp từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), hiện lãi suất 12 tháng trung bình của nhóm ngân hàng thương mại duy trì ở mức 5,1%, không thay đổi so với tháng trước. Trong khi đó, lãi suất của các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn giữ nguyên ở mức 4,7%.

Còn nhiều nhân tố gia tăng áp lực lên lãi suất huy động

Thứ hạng các ngân hàng trả lãi tiết kiệm cao tại các kỳ hạn cũng không có quá nhiều biến động so với tháng trước. Cụ thể, với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 11/2 là 4,05%/năm được áp dụng tại CBBank, đứng thứ hai là DongABank với mức lãi suất 4,04%/năm, tiếp đó là NamABank và MBV (chuyển đổi từ OceanBank sau khi chuyển giao bắt buộc về MB) cùng niêm yết lãi suất 4%/năm. Như vậy, 3/4 ngân hàng có lãi suất huy động cao đều là các ngân hàng bị chuyển giao bắt buộc trong năm 2024.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, mức lãi suất cao nhất thuộc về VPBank với lãi suất 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm.

Với kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn 6 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 2/2025 là 5,65%/năm được áp dụng tại CBBank. Ngân hàng DongABank áp dụng mức lãi suất 5,47%/năm, mức cao thứ hai hệ thống. Nhiều tên tuổi đồng hạng ba, với lãi suất

5,3%/năm gồm: VietcapitalBank, VietBank, MBV và ABBank. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9 - 3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững vị trí đầu.

Trong trường hợp có khoản tiền chưa cần sử dụng trong thời gian dài, kỳ hạn 12 tháng có mức lãi suất lý tưởng nhất, được nhiều ngân hàng áp dụng thêm chính sách các ưu đãi khác.

Lãi suất tiền gửi ở mức cao 7 - 9% chỉ xuất hiện tại một số nhà băng áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt khi gửi số tiền "khủng" và với kỳ hạn dài.

Cũng theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến hết năm 2024, mặt bằng lãi suất huy động tăng 0,71% so với đầu năm song mặt bằng lãi suất cho vay giảm 0,59%. Theo giới phân tích, mặt bằng lãi suất huy động có thể tiếp đà tăng nhẹ như những năm vừa qua.

Trong năm 2025, theo ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, nhà điều hành cần quan tâm đến việc doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung đang cần gì ở thời điểm hiện tại, họ cần chi phí vốn rẻ hơn hay cần dễ dàng tiếp cận vốn hơn, từ đó, điều hành chính sách đúng và trúng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế và doanh nghiệp phát triển.

Đánh giá về xu hướng lãi suất suất tiết kiệm năm 2025, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng, đà phục hồi kinh tế cùng với việc ngày càng nhiều doanh nghiệp bắt đầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh sau giai đoạn chịu ảnh hưởng từ đại dịch sẽ là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, qua đó, sẽ gia tăng áp lực lên lãi suất huy động. Việc NHNN nới hạn mức tín dụng nhằm thúc đẩy cho vay cũng khiến các ngân hàng phải gia tăng huy động để cân đối thanh khoản.

Xu hướng tăng lãi suất huy động khó cản?

Chi phí vốn đủ để doanh nghiệp vận hành tốt

Trong bối cảnh hiện nay, tôi cho rằng, doanh nghiệp cần tiếp cận vốn nhiều hơn, người dân cần có nhiều tiền hơn để mở rộng hầu bao chi tiêu. Chi phí vốn như hiện tại đã là đủ để doanh nghiệp vận hành tốt, điều chúng ta cần là kích thích chi tiêu, mở rộng đầu ra cho doanh nghiệp. Quan điểm cá nhân tôi là chấp nhận giữ hoặc tăng nhẹ mặt bằng lãi suất để giảm bớt áp lực tỷ giá cũng như áp lực rút vốn. Ông Trần Ngọc Báu - Chủ tịch HĐQT WiGroup

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

(TBTCO) - Theo ông Phan Dũng Khánh - Chuyên gia tư vấn đầu tư độc lập, thị trường vàng chịu tác động từ nhiều yếu tố quốc tế như chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, đồng USD và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ, cùng các yếu tố trong nước như tâm lý nhà đầu tư và quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, xu hướng giá vàng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào diễn biến của thị trường thế giới.
Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm từ 1 - 1,5 triệu đồng/lượng.
Phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2045: Mở đường sandbox, xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia

Phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2045: Mở đường sandbox, xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia

(TBTCO) - Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính định hướng phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, bền vững. Bên cạnh nghiên cứu triển khai sandbox với một số mô hình kinh doanh bảo hiểm ứng dụng công nghệ mới, Đề án cũng hướng tới xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia, ứng dụng blockchain để lưu vết hồ sơ bồi thường, cảnh báo trục lợi...
Khi quyền lợi bảo hiểm đến đúng lúc

Khi quyền lợi bảo hiểm đến đúng lúc

(TBTCO) - Việc Prudential hoàn tất thẩm định và quyết định chi trả gần 200 triệu đồng cho gia đình một khách hàng gặp nạn trong trận lũ tại tỉnh Lai Châu một lần nữa cho thấy giá trị thiết thực của bảo hiểm nhân thọ khi rủi ro xảy ra. Trên thị trường, nhiều doanh nghiệp cũng đang đẩy nhanh quá trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm, qua đó hỗ trợ khách hàng và gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính, từng bước vượt qua biến cố.
Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tình trạng đánh tráo chip thẻ, yêu cầu minh bạch phí thẻ tín dụng

Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tình trạng đánh tráo chip thẻ, yêu cầu minh bạch phí thẻ tín dụng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán khi xuất hiện nhiều thủ đoạn gian lận mới. Đáng chú ý là tình trạng bóc tách, đánh tráo chip trên thẻ vật lý để làm giả, chiếm đoạt tài sản; một số tổ chức phát hành thẻ chưa công khai, minh bạch các loại phí, lãi suất với thẻ tín dụng.
Hai thủ tục hành chính mới trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

Hai thủ tục hành chính mới trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

(TBTCO) - Tại Quyết định số 1997/QĐ-BTC vừa ban hành, Bộ Tài chính đã công bố 2 thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

(TBTCO) - VietABank lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 826,3 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng đồng đều ở các nguồn thu cốt lõi. Việc mở rộng huy động vốn trong nước và quốc tế tạo dư địa để ngân hàng đẩy mạnh cho vay, đưa dư nợ tiến sát mốc 100.000 tỷ đồng và duy trì chất lượng tài sản.
Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

(TBTCO) - Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (WB) thống nhất xây dựng danh mục các dự án dự kiến vay vốn giai đoạn 2026 - 2030, ưu tiên các dự án hiệu quả, tạo sức lan tỏa. Đồng thời, đưa ra những định hướng đổi mới trong triển khai, bảo đảm an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,500 141,200
Hà Nội - PNJ 136,500 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,500 141,200
Miền Tây - PNJ 136,500 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,500 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,500 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 14,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 14,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 14,200
NL 99.99 12,950
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,390 14,090
Trang sức 99.99 13,400 14,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 30/07/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17734 18008 18587
CAD 18135 18411 19030
CHF 31453 31832 32479
CNY 0 3849 3942
EUR 29337 29557 30640
GBP 34175 34566 35509
HKD 0 3225 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14897 15487
SGD 19823 20105 20684
THB 700 764 817
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26135 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,525
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,495 29,519 30,926
JPY 156.5 156.78 166.21
GBP 34,380 34,473 35,536
AUD 17,968 18,033 18,714
CAD 18,333 18,392 19,065
CHF 31,788 31,887 32,816
SGD 19,956 20,018 20,809
CNY - 3,814 3,959
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.72 17.44 18.97
THB 749.11 758.36 812.33
NZD 14,898 15,036 15,477
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,676 2,770
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,021.83 - 6,795.68
TWD 731.41 - 885.95
SAR - 6,895.43 7,262.06
KWD - 83,222 88,539
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,125 26,145 26,525
EUR 29,436 29,554 30,746
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,290 3,303 3,421
CHF 31,612 31,739 32,653
JPY 156.83 157.46 165.36
AUD 18,009 18,081 18,677
SGD 20,030 20,110 20,699
THB 765 768 804
CAD 18,344 18,418 18,995
NZD 14,984 15,527
KRW 17.32 19.21
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26500
AUD 17924 18024 18949
CAD 18317 18417 19431
CHF 31709 31739 33321
CNY 3830.4 3855.4 3990.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29539 29569 31294
GBP 34498 34548 36308
HKD 0 3355 0
JPY 157.38 157.88 168.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15018 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19988 20118 20845
THB 0 730.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,550
USD20 26,114 26,214 26,567
USD1 26,064 26,214 26,571
AUD 17,989 18,089 19,202
EUR 29,368 29,468 31,127
CAD 18,286 18,386 19,692
SGD 20,073 20,223 20,788
JPY 157.96 159.46 164.98
GBP 34,411 34,561 35,780
XAU 13,648,000 0 14,052,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/07/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80