1.105 DN ở Phú Thọ nợ bảo hiểm xã hội 123,8 tỷ đồng

Lâm Đào An/TTXVN
Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 1.105 doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội với số tiền 123,8 tỷ đồng, tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, phần lớn số đơn vị sử dụng lao động nợ bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên, cá biệt còn có những doanh nghiệp nợ bảo hiểm lên đến 6-7 năm.
aa

xi mang phu tho

Công ty Cổ phần xi măng Phú Thọ nợ 7,1 tỷ đồng. Ảnh giao diện trang web CtyCP xi măng Phú Thọ.

Trong số này có nhiều doanh nghiệp nợ kéo dài nhiều năm với số tiền nợ lớn như: Công ty Cổ phần xi măng Hữu Nghị, nợ 40 tháng với số tiền hơn 6 tỷ đồng; Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Sơn Ngọc nợ 1,3 tỷ đồng kéo dài 36 tháng; Công ty cổ phần xây lắp điện nước Phú Thọ nợ 2,5 tỷ đồng kéo dài 46 tháng.

Nhiều doanh nghiệp mặc dù làm ăn có hiệu quả nhưng vẫn nợ bảo hiểm xã hội như: Công ty Cổ phần xi măng Phú Thọ nợ 7,1 tỷ đồng, Công ty Cổ phân thép Sông Hồng nợ 4,9 tỷ đồng, Công ty cổ phần Lilama 3.4, nợ 1,6 tỷ đồng; Công ty cổ phần xi măng Phú Thọ nợ đọng với số tiền lên đến 5,4 tỷ đồng; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chè Phú Bền nợ với tổng số tiền là 8,6 tỷ đồng…

Đặc biệt một số đơn vị đã từng bị cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện ra tòa vì nợ bảo hiểm xã hội nhưng đến nay thi hành án không thu hồi được như: Công ty Cổ phần Sông Hồng Thăng Long, nợ 27 tháng với số tiền 2,7 tỷ đồng; Công ty trách nhiệm hữu hạn ACE, nợ 4 tỷ đồng; Công ty Cổ phần xi măng Hữu Nghị, nợ bảo hiểm xã hội 6,1 tỷ đồng; Công ty trách nhiệm hữu hạn TEXMART-VINA nợ 1,1 tỷ đồng đã khởi kiện thu hồi được 800 triệu đồng nhưng phát sinh nợ mới tiếp 795 triệu đồng; Công ty cổ phần may Thành Nam (thị xã Phú Thọ) nợ 1,042 tỷ đồng, toà án đã tuyên án phải trả bảo hiểm xã hội thị xã Phú Thọ từ tháng 8/2012 nhưng đến nay số nợ vẫn treo…

Theo ông Lê Quốc Việt, Trưởng phòng thu bảo hiểm xã hội Phú Thọ, tình trạng số nợ bảo hiểm xã hội tăng cao ngoài nguyên nhân do tình hình sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp gặp khó khăn, vẫn còn nhiều doanh nghiệp dù làm ăn tốt nhưng cố tình chây ỳ, chiếm dụng tiền bảo hiểm xã hội của người lao động.

Mặc dù cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp nhưng thực trạng trốn đóng, nợ đọng bảo hiểm xã hội vẫn tiếp diễn mạnh. Đến nay, cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh đã khởi kiện 10 đơn vị, doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên việc thi hành án còn chậm, các doanh nghiệp đều không chịu trả tiền.

Trước tình hình vi phạm Luật Bảo hiểm xã hội phổ biến như hiện nay, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ thành lập Tổ công tác (tổ thu nợ) liên ngành để kiểm tra, xử lý nợ bảo hiểm xã hội; thành lập ban chỉ đạo thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội của tỉnh và xây dựng quy chế phối hợp và giao trách nhiệm giữa các ban, ngành, đoàn thể để thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự nguyện và xử lý nợ.

Bảo hiểm xã hội các huyện, thị cũng đã chủ động trực tiếp đến từng đơn vị để đôn đốc việc thu nộp bảo hiểm; nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị trên địa bàn huyện để đưa ra những biện pháp hợp lý. Đồng thời phối hợp với các ngành tư pháp, thanh tra, lao động thương bình xã thành lập Đoàn thanh tra liên ngành để tiến hành thanh tra các đơn vị sử dụng lao động trong việc thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Mới đây, Bảo hiểm xã hội tỉnh và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Phú Thọ vừa ký kết hợp đồng hợp tác thu, thu nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự nguyện đối với các doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Việc ký kết triển khai chương trình hợp tác thu nợ sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm chi phí hơn cho các doanh nghiệp trong việc nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự nguyện…/.

Lâm Đào An/TTXVN

Lâm Đào An/TTXVN

Đọc thêm

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,300
Hà Nội - PNJ 140,300 143,300
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,300
Miền Tây - PNJ 140,300 143,300
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,300
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17568 17840 18416
CAD 17711 17985 18604
CHF 30684 31060 31702
CNY 0 3836 3932
EUR 28495 28712 29792
GBP 33576 33964 34901
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14231 14818
SGD 19771 20052 20622
THB 687 751 804
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,815 25,815 26,195
USD(1-2-5) 24,783 - -
USD(10-20) 24,783 - -
EUR 28,557 28,580 29,936
JPY 160.35 160.64 170.37
GBP 33,791 33,882 35,054
AUD 17,770 17,834 18,510
CAD 17,902 17,959 18,619
CHF 30,971 31,067 31,978
SGD 19,894 19,956 20,740
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 736.8 745.9 798.17
NZD 14,242 14,374 14,801
SEK - 2,544 2,634
DKK - 3,831 3,966
NOK - 2,657 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.37 - 6,709.49
TWD 739.25 - 895.07
SAR - 6,807.85 7,171.9
KWD - 82,065 87,324
AED - 6,823 7,353
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17747 17847 18770
CAD 17901 18001 19012
CHF 30954 30984 32566
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28683 28713 30446
GBP 33888 33938 35693
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14343 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19931 20061 20782
THB 0 716.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 06/10/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30