Agribank đồng hành phát triển kinh tế - xã hội địa bàn Thủ đô

(TBTCO) - Tròn 70 năm sau Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2024), Hà Nội đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu quan trọng, xứng đáng là trái tim của cả nước. Agribank cùng ngành Ngân hàng vinh dự được đóng góp, đồng hành trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa bàn Thủ đô.
aa

Thủ đô Hà Nội dù chỉ chiếm 1% diện tích và 8,5% dân số cả nước, nhưng đã đóng góp tới 16% GDP, 18,5% thu ngân sách và 20% thu nội địa của Việt Nam. Đây là những con số thể hiện rõ vị thế của Hà Nội như một trung tâm kinh tế lớn, động lực phát triển của cả nước.

Đặc biệt, trong 10 năm trở lại đây, Hà Nội luôn có mức tăng trưởng kinh tế dương và cao hơn mức tăng GDP trung bình hàng năm của cả nước. Số liệu của Cục Thống kê TP. Hà Nội cho thấy, tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) giai đoạn 2011 - 2023 tăng bình quân 6,67%/năm; 9 tháng đầu năm 2024, GRDP ước tăng 6,2%, với các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều duy trì mức tăng trưởng ổn định.

Agribank đồng hành phát triển kinh tế - xã hội địa bàn Thủ đô
Công tác an sinh xã hội luôn được Agribank triển khai với nhiều chương trình thiết thực trên địa bàn Hà Nội để "không ai bị bỏ lại phía sau".

Một trong những kết quả nổi bật trong bức tranh kinh tế Thủ đô năm 2024 là thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 23,1% và đạt 92,8% dự toán cả năm; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do Hà Nội quản lý tăng 34,9%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 14,2%; tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng 10,5%, các lĩnh vực văn hóa, giáo dục tiếp tục phát triển, an sinh xã hội được bảo đảm…

Với trên 2.000 điểm giao dịch của 486 tổ chức tín dụng (TCTD), gồm trụ sở chính đến chi nhánh cấp I đang hoạt động, địa bàn Hà Nội chiếm khoảng gần 1/3 tổng nguồn vốn huy động và cho vay tín dụng của cả nước, trên 50% vốn huy động được điều tiết hỗ trợ nguồn vốn cho các địa phương khác, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội chung của đất nước.

Agribank với 268 điểm giao dịch trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, là ngân hàng có số lượng điểm giao dịch lớn nhất trong các NHTM, vinh dự góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế - xã hội trên địa bàn. Việc Agribank triển khai quyết liệt các giải pháp về tiền tệ, nâng cao chất lượng tín dụng, điều chỉnh mạnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung cho vay nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xây dựng nông thôn mới, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tiện ích, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về vốn và dịch vụ ngân hàng cho người dân trên địa bàn.

Bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, Agribank nỗ lực đẩy mạnh tín dụng thông qua nhiều giải pháp để hỗ trợ nền kinh tế nói chung và địa bàn Thủ đô nói riêng. Trong thời gian qua, Agribank đã triển khai nhiều cơ chế, chính sách thuận lợi, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân kịp thời tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, thực hiện cơ cấu lại nợ, giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ khách hàng.

Giai đoạn 2019 - 2023, bình quân dư nợ cho vay nền kinh tế của các chi nhánh Agribank khu vực thành phố Hà Nội khoảng 135 ngàn tỷ đồng, cao nhất là năm 2023 đạt trên 144.485 tỷ đồng, cho thấy vai trò và nỗ lực của ngân hàng trong việc cung cấp vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế của Thủ đô. Nguồn vốn của Agribank đã hỗ trợ phát triển các dự án kinh tế trên toàn địa bàn, giúp hàng triệu hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng.

Agribank đồng hành phát triển kinh tế - xã hội địa bàn Thủ đô
Nguồn vốn Agribank góp phần gìn giữ, phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn Thủ đô.

Kinh tế của Thủ đô những năm qua ghi nhận những bước tiến nổi bật trong phát triển nền nông nghiệp mang tính đặc thù khi nằm trong lòng đô thị. Với diện tích đất nông nghiệp hạn chế nhưng nhu cầu tiêu dùng và phát triển nông sản lại ngày càng tăng. Nhằm đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường, Hà Nội đã hướng tới phát triển nông nghiệp sạch, hữu cơ, gắn với công nghiệp chế biến và chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là một phần trong mục tiêu xây dựng nông thôn mới và thúc đẩy nông nghiệp bền vững mà thành phố đang hướng tới.

Là NHTM chủ lực trong lĩnh vực nông nghiệp, Agribank là người bạn đồng hành tin cậy trong sự nghiệp phát triển của nền nông nghiệp nói chung và nông nghiệp địa bàn Thủ đô nói riêng. Agribank đã và đang trở thành “cầu nối” quan trọng giữa nguồn vốn tín dụng và các doanh nghiệp, hộ gia đình nông nghiệp tại Hà Nội khi tiên phong trong việc cung cấp các chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi, giúp người dân và doanh nghiệp nông nghiệp có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, đầu tư vào các công nghệ mới, và nâng cao năng suất lao động. Với hơn khoảng 300 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ hiện đại trên địa bàn thành phố, Agribank đã hỗ trợ nguồn lực tài chính đáng kể góp phần thúc đẩy các dự án nông nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Agribank đồng hành phát triển kinh tế - xã hội địa bàn Thủ đô
Nhiều dự án, mô hình nông nghiệp sạch, công nghệ cao mang lại hiệu quả kinh tế.

Bên cạnh hoạt động tín dụng và dịch vụ ngân hàng, Agribank còn đóng góp tích cực vào công tác an sinh xã hội trên địa bàn Thủ đô. Agribank phối hợp với các cấp chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều chương trình thiết thực, trao tặng học bổng, hỗ trợ xây dựng nhà ở cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách, người có công với cách mạng... với mong muốn góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội.

Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu phát triển kinh tế của Thủ đô Hà Nội với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 cao hơn mức tăng bình quân chung của cả nước; GRDP giai đoạn 2026-2030 tăng 8,0%-8,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 12.000-13.000 USD, đến năm 2045, GRDP bình quân đầu người đạt trên 36.000 USD... Để đạt được những mục tiêu trên, thành phố Hà Nội sẽ phát triển các mô hình kinh tế mới hiệu quả hơn trong thời gian tới. Agribank mong muốn cùng ngành Ngân hàng và hệ thống chính trị tiếp tục đồng hành, xây dựng Thủ đô phát triển bền vững, đóng góp quan trọng phát triển kinh tế - xã hội đất nước./.

Bài và ảnh: Hồ Nguyệt

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

(TBTCO) - Với khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn, tài trợ tới 100% giá trị thiết bị và dùng dòng tiền khai thác để trả tiền thuê, cho thuê tài chính có nhiều lợi thế với y tế tư nhân. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê tài chính thiết bị y tế mới khoảng 1.000 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ “nút thắt”, có chính sách đặc thù để mở rộng kênh vốn này.
Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,940 ▼20K 14,540 ▼20K
Trang sức 99.99 13,950 ▼20K 14,550 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,428 ▼7K 14,582 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,428 ▼7K 14,583 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1280K 1,453 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1280K 1,454 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,398 ▼7K 1,443 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,871 ▼693K 142,871 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,586 ▼525K 108,386 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,484 ▲79588K 98,284 ▲88408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,382 ▼427K 88,182 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,485 ▼408K 84,285 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,529 ▼292K 60,329 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cập nhật: 17/09/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18824
CAD 18063 18338 18955
CHF 30862 31239 31881
CNY 0 3835 3931
EUR 29207 29427 30506
GBP 34015 34405 35337
HKD 0 3184 3386
JPY 160 163 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14607 15192
SGD 19846 20128 20696
THB 695 759 811
USD (1,2) 25746 0 0
USD (5,10,20) 25785 0 0
USD (50,100) 25813 25827 26193
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 29,242 29,265 30,659
JPY 162.53 162.82 172.67
GBP 34,183 34,276 35,461
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,230 18,289 18,965
CHF 31,153 31,250 32,175
SGD 19,959 20,021 20,807
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 743.36 752.54 806.01
NZD 14,588 14,723 15,162
SEK - 2,601 2,692
DKK - 3,922 4,061
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,931.92 - 6,695.46
TWD 736.25 - 892
SAR - 6,800.69 7,163.63
KWD - 82,300 87,574
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,244 29,361 30,555
GBP 34,159 34,296 35,321
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,952 31,076 32,013
JPY 162.50 163.15 171.13
AUD 18,099 18,172 18,764
SGD 19,999 20,079 20,667
THB 759 762 799
CAD 18,242 18,315 18,904
NZD 14,615 15,157
KRW 18.02 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26190
AUD 18159 18259 19184
CAD 18247 18347 19361
CHF 31131 31161 32739
CNY 3817.6 3842.6 3978
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29402 29432 31157
GBP 34327 34377 36135
HKD 0 3305 0
JPY 163.49 163.99 174.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14717 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20007 20137 20868
THB 0 724.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,703 25,740 26,180
USD20 25,673 25,740 26,180
USD1 25,653 25,740 26,180
AUD 18,184 18,284 19,389
EUR 29,161 29,261 30,919
CAD 18,170 18,270 19,575
SGD 20,072 20,222 20,779
JPY 163.85 165.35 170.9
GBP 34,184 34,334 35,400
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/09/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30