Agribank trả lại trên 78 tỷ đồng tiền thừa cho khách hàng

(TBTCO) - Năm 2023, công tác tài chính kế toán và ngân quỹ trong toàn hệ thống Agribank tiếp tục đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đảm bảo an toàn tài sản; đóng góp tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống tiền giả; trả lại tiền thừa khách hàng trên 78 tỷ đồng.
aa

Tích cực đấu tranh phòng chống tiền giả

Trong những năm qua, các đơn vị trong toàn hệ thống Agribank đã quán triệt và tổ chức triển khai kịp thời theo đúng các quy định, hướng dẫn, chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước và Agribank liên quan đến lĩnh vực tài chính kế toán và ngân quỹ.

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của trụ sở chính, công tác tiền tệ kho quỹ trong toàn hệ thống cơ bản đã đi vào nề nếp và đạt được những kết quả đáng khích lệ, đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền mặt của khách hàng cả về số lượng và cơ cấu mệnh giá; công tác kiểm đếm, thu chi, đóng gói, giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá được thực hiện đúng quy định, đảm bảo an toàn kho quỹ ngân hàng, đóng góp tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống tiền giả và trả lại tiền thừa cho khách hàng.

Agribank trả lại trên 78 tỷ đồng tiền thừa cho khách hàng
Agribank trả lại trên 78 tỷ đồng tiền thừa cho khách hàng

Năm 2023, tiền giả và nạn lưu hành tiền giả đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, đời sống của nhân dân, gây khó khăn trong hoạt động giao dịch tiền mặt của ngành Ngân hàng nói chung và Agribank nói riêng. Song với tinh thần trách nhiệm và kinh nghiệm tích lũy từ thực tế của đội ngũ làm công tác giao dịch viên, kho quỹ và máy móc thiết bị phục vụ cho công tác kiểm đếm tiền được trang bị đầy đủ, công tác tập huấn, tự đào tạo được chú trọng nên đã giúp cho cán bộ làm công tác thu - chi tiền mặt nắm vững những đặc điểm thông tin phân biệt tiền thật giả khi giao dịch với khách hàng... toàn hệ thống Agribank đã thu giữ 934 tờ tiền giả, với tổng số tiền là 336.690 nghìn đồng nộp về Ngân hàng Nhà nước theo đúng quy định.

Đưa uy tín thương hiệu và thúc đẩy Agribank phát triển ngày càng bền vững

Phát huy phẩm chất cao quý, trung thực, liêm khiết của người cán bộ ngân hàng, đội ngũ cán bộ giao dịch viên, thủ kho tiền, thủ quỹ, kiểm ngân trong hệ thống Agribank đã luôn tạo được lòng tin trong giao dịch tiền mặt với khách hàng. Trong quá trình thu chi tiền mặt xác định được các trường hợp thừa tiền đã trả lại cho khách hàng.

Năm 2023, toàn hệ thống đã trả lại tiền thừa cho khách hàng với 27.598 món/tổng số tiền là 78.580 triệu đồng. Trong đó, trả lại cho khách hàng là cá nhân là 25.763 món/số tiền là 76.836 triệu đồng; trả lại cho khách hàng là pháp nhân là 1.835 món/số tiền là 1.744 triệu đồng.

Agribank trả lại trên 78 tỷ đồng tiền thừa cho khách hàng
Agribank trả lại trên 78 tỷ đồng tiền thừa cho khách hàng

Các chi nhánh trả lại cho khách hàng số tiền lớn trong năm 2023 như: Chi nhánh tỉnh Hải Dương trả 3.993 món/tổng số tiền 9.310 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp trả 1.264 món/tổng số tiền 4.743 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Sơn La trả 945 món/tổng số tiền 4.103 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Đồng Nai trả 816 món/tổng số tiền 4.038 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh An Giang trả 1.072 món/tổng số tiền 2.445 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Trà Vinh trả 492 món/tổng số tiền 2.274 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Bến Tre trả 996 món/tổng số tiền 2.153 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Bình Định trả 633 món/tổng số tiền 2.045 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi trả 569 món/tổng số tiền 1.826 triệu đồng; Chi nhánh tỉnh Hậu Giang trả 380 món/tổng số tiền 1.486 triệu đồng.

Những cán bộ trả món tiền thừa cho khách hàng cao: bà Phương Thị Phi Yến - Chi nhánh tỉnh Tây Ninh 500 triệu đồng; bà Trần Thị kim Oanh - Chi nhánh Sài Gòn 395 triệu đồng; bà Phạm Minh Phương - Chi nhánh tỉnh Cao Bằng 340 triệu đồng; bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Chi nhánh Bắc Yên Bái 300 triệu đồng; bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Chi nhánh tỉnh Sơn La 259 triệu đồng; bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Chi nhánh Hà Tây I 250 triệu đồng; bà Nguyễn Thị thu - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp 250 triệu đồng; ông Nguyễn Hoàng Minh - Chi nhánh tỉnh Đồng Nai 200 triệu đồng; ông Đinh Nguyễn An Khang - Chi nhánh An Giang 200 triệu đồng; ông Vi Quang Sang - Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn 200 triệu đồng.

Cán bộ trả nhiều món tiền thừa: bà Nguyễn Thị Hiên - Trung tâm Ngân quỹ miền Bắc trả 503 món, số tiền 37 triệu đồng; bà Nguyễn Thị Phương Lan - Chi nhánh Hải Dương trả 364 món, số tiền 446 triệu đồng; bà Trần Thị Kim Oanh - Chi nhánh Sài Gòn trả 211 món, số tiền 856 triệu đồng; bà Nguyễn Thị Kim Lài - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp trả 177 món, số tiền 265 triệu đồng; bà Lê Thị Thảo Oanh - Chi nhánh Đồng Nai trả 173 món, số tiền 163 triệu đồng; ông Võ Thành Tín - Chi nhánh Bến Tre trả 173 món, số tiền 231 triệu đồng; ông Hàn Tuấn Anh - Chi nhánh tỉnh Quảng Trị trả 128 món, số tiền 149 triệu đồng; bà Phạm Thị Quỳnh - Chi nhánh tỉnh Sơn La trả 127 món, số tiền 173 triệu đồng; ông Đỗ Vũ An - Chi nhánh Kiên Giang II trả 126 món, số tiền 48 triệu đồng.

Việc trả lại tiền thừa cho khách hàng của đội ngũ cán bộ giao dịch viên, thủ kho, thủ quỹ, kiểm ngân, trong hệ thống Agribank đã thể hiện sự thấm nhuần tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, luôn có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc, đức tính thật thà, liêm khiết, và phong cách làm việc tận tâm đã để lại trong lòng khách hàng nhiều ấn tượng tốt đẹp.

Điều này đã góp phần tích cực trong việc xây dựng hình ảnh Agribank gần gũi mà chuyên nghiệp, truyền thống mà hiện đại; đưa uy tín thương hiệu và thúc đẩy Agribank phát triển ngày càng bền vững, góp phần tô đậm thêm truyền thống tốt đẹp của ngành, được đông đảo khách hàng trân trọng và khen ngợi, tiếp tục gửi trọn niềm tin với Agribank, một ngân hàng mang đậm bản sắc văn hóa doanh nghiệp "Trung thực - Kỷ cương - Sáng tạo - Chất lượng - Hiệu quả"./.

Bài và ảnh: Phạm Ngọc Đức

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18913
CAD 18344 18620 19238
CHF 31601 31981 32633
CNY 0 3830 3940
EUR 29671 29893 30970
GBP 34618 35010 35945
HKD 0 3207 3409
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15074 15665
SGD 19946 20228 20798
THB 706 769 823
USD (1,2) 25915 0 0
USD (5,10,20) 25955 0 0
USD (50,100) 25984 25998 26365
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26360
AUD 18255 18355 19286
CAD 18522 18622 19637
CHF 31859 31889 33491
CNY 3821.5 3846.5 3981.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29853 29883 31613
GBP 34944 34994 36754
HKD 0 3330 0
JPY 160.6 161.1 171.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20109 20239 20962
THB 0 737.7 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,410
USD20 25,990 26,090 26,809
USD1 24,301 26,090 26,859
AUD 18,335 18,435 19,562
EUR 29,706 29,806 31,494
CAD 18,494 18,594 19,921
SGD 20,212 20,362 20,947
JPY 161.36 162.86 168.59
GBP 34,909 35,059 36,160
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80