Áp lực về tỷ giá vẫn còn nhưng sẽ dịu bớt vào cuối năm

Thái Duy
(TBTCO) - Trong năm 2022 sức ép lên tỷ giá vẫn còn, và có thời điểm VND có thể mất 2,5 - 3% so với USD, nhưng có thể tình hình sẽ dịu bớt vào cuối năm khi đà tăng lãi suất của FED có thể đi vào giai đoạn cuối, và rủi ro về tăng trưởng, lạm phát của kinh tế thế giới có thể được nhìn nhận rõ ràng hơn.
aa

Đây là nhận định về tỷ giá giai đoạn cuối năm được các chuyên gia SSI Research đưa ra trong báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ vừa mới phát hành gần đây.

Sức ép tỷ giá vẫn còn

Trong các phiên giao dịch đầu tiên đầu tuần trước, tỷ giá USD/VND niêm yết tại Vietcombank có thời điểm điều chỉnh tăng mạnh lên đến 140 đồng cho cả 2 chiều mua vào/bán ra trong khi tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng đóng cửa vượt mức 23.500 đồng/USD. Như kỳ vọng, vào ngày 7/9, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nâng tỷ giá bán USD tại Sở giao dịch lên mức 23.700 đồng (từ mức 23.400 đồng).

Áp lực về tỷ giá vẫn còn nhưng sẽ dịu bớt vào cuối năm
Về cuối năm, kỳ vọng nguồn cung ngoại tệ sẽ tích cực hơn theo yếu tố mùa vụ, đến từ hoạt động xuất – nhập khẩu và kiều hối.

Theo các chuyên gia SSI Research, đây có thể là lần điều chỉnh tỷ giá bán USD cuối cùng trong năm nay từ NHNN và một số điểm tích cực được ghi nhận trong lần điều chỉnh lần này. Thứ nhất, khác với những lần điều chỉnh trước, diễn biến tỷ giá nhanh chóng hạ nhiệt sau khi NHNN điều chỉnh, và kết tuần tỷ giá niêm yết tại Vietcombank chỉ tăng 90 đồng so với cuối tuần trước. Thứ hai, diễn biến tỷ giá trên thị trường tự do tương đối ổn định, và chênh lệch với thị trường niêm yết không quá cao.

“Điều này cho thấy mức tỷ giá USD/VND mà thị trường chấp nhận hiện tại là khoảng 23.500 - 23.600 đồng và mức giá chào bán của NHNN được đưa ra cao hơn để có thể chuẩn bị cho việc đồng USD tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới” – chuyên gia SSI Research cho hay.

“Về cuối năm, chúng tôi kỳ vọng nguồn cung ngoại tệ sẽ tích cực hơn theo yếu tố mùa vụ, đến từ hoạt động xuất – nhập khẩu, và kiều hối. Trong năm 2022 sức ép lên tỷ giá vẫn còn, và có thời điểm VND có thể mất 2,5 - 3% so với USD, nhưng có thể tình hình sẽ dịu bớt vào cuối năm khi đà tăng lãi suất của FED có thể đi vào giai đoạn cuối, và rủi ro về tăng trưởng hoặc lạm phát của kinh tế thế giới có thể được nhìn nhận rõ ràng hơn” – các chuyên gia này nhận định.

Hạn mức tín dụng mới có sự phân hóa

Báo cáo của SSI Research cho biết, trong tuần trước, NHNN tiếp tục có những động thái linh hoạt trên hoạt động thị trường mở để điều tiết thanh khoản trên thị trường.

Thanh khoản trên hệ thống trong đã gặp nhiều áp lực, phần nhiều đến từ việc đáo hạn các hợp đồng bán USD và khiến dòng tiền bị rút ra khỏi hệ thống, đẩy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh. Lãi suất liên ngân hàng có những thời điểm trong tuần bật lên vượt 7,5% - mức cao nhất kể từ năm 2012.

Gần như ngay lập tức, NHNN đã hỗ trợ thị trường thông qua nghiệp vụ mua kỳ hạn, với tổng khối lượng đạt 64,4 nghìn tỷ đồng và đồng thời cũng linh hoạt nâng kỳ hạn giao dịch lên 14 ngày. NHNN tiếp tục sử dụng cơ chế đấu thầu lãi suất và lãi suất OMO dao động ở 4,5% cho kỳ hạn 7 ngày và 4,65% cho kỳ hạn 14 ngày. Lãi suất liên ngân hàng nhờ đó đã hạ nhiệt về cuối tuần.

Kết tuần, lãi suất kỳ hạn qua đêm là 4,9% (tăng 40 điểm cơ bản) và kỳ hạn 1 tuần – 1 tháng dao động quanh mức 5,1-5,3% (tăng 47 điểm cơ bản). Trong tuần, NHNN đã bơm ròng khoảng 58 nghìn tỷ đồng thông qua hoạt động thị trường mở.

Áp lực về tỷ giá vẫn còn nhưng sẽ dịu bớt vào cuối năm
Áp lực lên lãi suất trên thị trường 1 cũng tăng dần trong thời gian qua. Trong tháng 8, mặt bằng lãi suất huy động tại một số ngân hàng tiếp tục tăng với mức điều chỉnh dao động từ 20 đến 40 điểm cơ bản đối với kỳ hạn 12 tháng. Tính đến thời điểm hiện tại, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng niêm yết dành cho khách hàng tổ chức đã tăng 40 - 140 điểm cơ bản so với cuối năm 2021 và trên thực tế mức tăng này có thể lớn hơn.

Theo các chuyên gia của SSI Research, NHNN trong tuần trước đã chính thức bổ sung hạn mức tín dụng cho một số NHNN với mức phân bổ rải đều từ 0,7% - 4%, tùy theo xếp hạng của từng ngân hàng dựa trên Nghị định 52/2018/NHNN và một số yếu tố khác theo định hướng của Chính phủ.

Trong đợt điều chỉnh lần này, mức tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ước tính sẽ tăng thêm khoảng 2%, thấp hơn so với các kỳ vọng của thành viên trên thị trường và dư địa để NHNN sẽ có thêm một đợt điều chỉnh vào cuối năm nay vẫn còn.

Bên cạnh đó, so với tăng trưởng tín dụng được ghi nhận trong năm 2021, hạn mức tín dụng mới trong năm 2022 có cho thấy sự phân hóa giữa nhóm ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước (không có nhiều thay đổi so với năm 2021) và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần (thấp hơn nhiều so với năm 2021).

“Điều này cho thấy mục tiêu của NHNN là hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt tín dụng lĩnh vực rủi ro cũng như điều tiết dòng tiền để kiểm soát được mục tiêu lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, khi trên thực tế, tỷ trọng cho vay các lĩnh vực rủi ro như cho vay kinh doanh bất động sản hay đầu tư trái phiếu doanh nghiệp từ các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước thấp hơn nhiều so với các ngân hàng thương mại cổ phần” – chuyên gia của SSI Research cho hay./.

Thái Duy

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲70K 14,560 ▲70K
Trang sức 99.99 13,970 ▲70K 14,570 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▲12K 14,652 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▲12K 14,653 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1275K 146 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1275K 1,461 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▲12K 145 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▲1188K 143,564 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▲900K 108,911 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼79248K 9,876 ▼88068K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲732K 88,609 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▲699K 84,693 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲500K 60,621 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cập nhật: 16/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18001 18275 18856
CAD 18134 18409 19025
CHF 31103 31481 32123
CNY 0 3833 3929
EUR 29372 29592 30668
GBP 34211 34602 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14650 15238
SGD 19875 20157 20733
THB 696 759 813
USD (1,2) 25736 0 0
USD (5,10,20) 25775 0 0
USD (50,100) 25803 25817 26183
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,684 25,724 26,180
USD20 25,654 25,724 26,180
USD1 25,634 25,724 26,180
AUD 18,217 18,317 19,422
EUR 29,347 29,447 31,106
CAD 18,251 18,351 19,655
SGD 20,102 20,252 20,816
JPY 164.48 165.98 171.53
GBP 34,423 34,573 35,630
XAU 14,288,000 0 14,592,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30