Tiền kỹ thuật số - xu thế của tương lai?

Bài 4: Thế giới ứng xử với tiền ảo như thế nào?

Ngô Chí Tùng
(TBTCO) - Nhằm duy trì vị thế độc quyền trong việc phát hành tiền tệ và chủ động trong việc điều hành kinh tế vĩ mô nên chính phủ nhiều nước không chấp nhận tiền ảo như một phương tiện thanh toán, bởi nó có nguy cơ đe dọa an ninh tiền tệ, an ninh kinh tế của đất nước. Tuy nhiên nhiều nước cởi mở hơn, chấp nhận tiền ảo là “một đơn vị tiền tệ” và là “tiền tiêu dùng”, đồng thời để quản lý đồng tiền này, chính phủ của họ áp đặt thuế trong giao dịch tiền ảo.
aa

Lo ngại về việc không thể kiểm soát

Với một nền kinh tế mở, khoa học công nghệ số phát triển rất cao và là thị trường đứng đầu thế giới, nhưng Mỹ lại tỏ ra khá thận trọng với tiền ảo. Đầu tháng 4/2021, Bộ Tài chính Mỹ ban hành kế hoạch xử phạt các tổ chức tài chính liên quan đến các giao dịch rửa tiền thông qua tài sản kỹ thuật số.

Ở châu Á, Singapore được xem là quốc gia “làm bạn với cả thế giới” cũng mới đưa ra cảnh báo về sự bất ổn của tiền ảo. Chủ tịch Cơ quan tiền tệ quốc tế Singapore Tharman Shanmugaratnam từng nhiều lần khuyến cáo người dân Singapore: “Cần hết sức thận trọng với tiền ảo bởi tính rủi ro cao”.

Bài 4: Thế giới ứng xử với tiền ảo như thế nào?
Mặc dù có lệnh cấm của chính phủ, người dân nhiều nước lại tỏ ra khá hào hứng với tiền ảo.

Với Trung Quốc, đây là thị trường tiền ảo khá sôi động nhưng chính phủ nước này cũng rất mạnh tay với tiền ảo. Ngay từ năm 2017 nước này đã ra lệnh cấm công dân trao đổi trực tiếp đồng Nhân dân tệ lấy tiền ảo thông qua các trang web giao dịch trực tuyến. Ấn Độ, nước đông dân thứ 2 thế giới cũng cấm tiền ảo kèm theo quy chế phạt nặng với những người giao dịch hoặc nắm giữ tiền ảo. Nhật Bản, Hàn Quốc cũng liên tục đưa ra những cảnh báo và những cạm bẫy, rủi ro tiềm ẩn từ tiền ảo.

Thổ Nhĩ Kỳ là nước có tỷ lệ người dân dùng tiền ảo tới 20%, cao nhất thế giới nhưng vào ngày 16/4/2021, Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã ban lệnh cấm sử dụng tiền ảo trong mọi giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng mọi phương pháp trực tiếp hay gián tiếp. Cơ quan này nhấn mạnh các tài sản tiền ảo "không bị điều chỉnh bởi bất kỳ quy định hay cơ chế giám sát nào, cũng không được quản lý bởi bất kỳ cơ quan trung ương nào".

Ngay cả Chủ tịch Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell khi phát biểu với hãng thông tấn CNBC ngày 14/4/2021 cũng có cái nhìn không mấy thiện cảm với tiền ảo, ông cho rằng: “Tiền ảo chủ yếu chỉ để đặt cược vào sự tăng giá mà chưa hề đạt tới địa vị cơ chế thanh toán. Tiền ảo thực sự là công cụ cho việc đầu cơ".

Chấp nhận để quản lý

Thích ứng với xu thế mới

Với sự phát triển hết sức nhanh của công nghệ số và các loại hình thanh toán mới, theo hãng tin Bloomberg, báo cáo từ công ty kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC) mới đây cho biết, hiện có hơn 60 ngân hàng trung ương trên toàn cầu đang cân nhắc phát hành tiền kỹ thuật số và số hóa đồng tiền của mình. Trong đó, các dự án tiền kỹ thuật số bán lẻ - dùng trong các hoạt động thanh toán của người dân đang chiếm ưu thế tại các nền kinh tế mới nổi. Ngược lại, các dự án tiền kỹ thuật số bán buôn – dùng trong thanh toán liên ngân hàng có xu hướng trội hơn tại các nền kinh tế phát triển.

Thế nhưng, mặc dù có lệnh cấm của chính phủ, người dân nhiều nước lại tỏ ra khá hào hứng với tiền ảo. Ngay như công ty sản xuất xe điện Tesla của tỷ phú Elon Musk vào đầu tháng 2/2021 đã mua 1,5 tỷ USD tiền điện tử bitcoin, chấp nhận bitcoin trong tương lai như một hình thức thanh toán đối với khách hàng mua xe.

Theo khảo sát trong năm 2019 của Statista - một công ty của Đức chuyên về thị trường và dữ liệu người tiêu dùng thì Thổ Nhĩ Kỳ là nước có tỷ lệ dùng tiền ảo tới 20%, cao nhất thế giới, tiếp đến là Brazil và Colombia đứng thứ hai với tỷ lệ 18%; Argentina và Nam Phi cùng đứng thứ 3 với tỷ lệ 16%; Mexico 12%, Chile 11%; Trung Quốc và Indonexia cùng 11%; Tây Ban Nha 10%; Nga 9%, Đan Mạch 8%; Úc 7%, Anh 6%; Mỹ 5%; Pháp 4%, Đức 4% và Nhật Bản 3%...

Có lẽ nhận thấy xu thế không thể đảo ngược của tiền ảo, Đức - quốc gia có nền kinh tế đứng thứ tư thế giới và đứng đầu châu Âu ngay từ năm 2013 đã công nhận bitcoin là loại tiền hợp pháp và là đối tượng chịu thuế và trở thành quốc gia đầu tiên công nhận việc sử dụng tiền ảo như một “đơn vị tiền tệ” và “tiền tiêu dùng”.

Gần đây nhất, khi cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina xảy ra, các nước phương Tây đã trừng phạt Nga bằng việc đóng băng khối dự trữ ngoại tệ hàng trăm tỉ USD, đồng thời ngắt hầu hết các ngân hàng Nga khỏi SWIFT (hệ thống thông tin thanh toán toàn cầu được các ngân hàng sử dụng để thanh toán xuyên biên giới), những nhà lãnh đạo Nga cũng đã tính toán đến phương án sử dụng tiền ảo để thanh toán thay thế đồng USD trong các giao dịch. Các nước như Iran, Triều Tiên… do bị quốc tế trừng phạt cũng đã sử dụng tiền ảo như một phương thức thanh toán quốc tế để lách các biện pháp cấm vận quốc tế.

Một dẫn chứng về sự vươn lên thần kỳ từ tiền ảo đó là thành phố Zug của Thụy Sỹ. Trước 2013, Zug là một bang cũng là thành phố cổ nhưng nhỏ bé, nghèo nhất Thụy Sỹ với dân số chưa tới 30.000 người nằm cách Zurich 25km về phía nam. Trong khi các nước còn đang loay hoay nhận diện tiền ảo thì chính quyền thành phố Zug quyết định chấp thuận và bảo trợ cho hoạt động startup tiền ảo. Ngay lập tức các chuyên gia hàng đầu thế giới đã đổ về Zug và chỉ sau hơn 2 năm, Zug đã trở thành trung tâm

blockchain số 1 thế giới, trái tim của thung lũng tiền mã hóa. Chỉ sau 8 năm, từ một bang nghèo nhất đã vươn lên thành bang giàu có nhất Thụy Sỹ với hơn 400 doanh nghiệp trong lĩnh vực blockchain, chiếm 45% toàn khu vực. Top 50 doanh nghiệp lớn nhất nơi đây đã tạo ra giá trị 254,9 tỷ USD cùng 11 kỳ lân giá trị hơn 1 tỷ USD, với những cái tên nổi bật như Ethereum (157.2 tỷ USD), Cardano (40,6 tỷ USD) hay Polkadot (29,3 tỷ USD)... Thu nhập bình quân đầu người ở Zug cũng vươn lên đứng thứ hai toàn Thụy Sĩ.

Lý do khiến nhiều chính phủ thận trọng hoặc quay lưng với tiền ảo

Tiền ảo tồn tại bên rìa hệ thống tài chính toàn cầu và không được quản lý bởi một cơ quan nhà nước như các loại tiền tệ pháp định do chính phủ phát hành. Ngoài việc lo ngại được sử dụng vào mục đích rửa tiền, trốn thuế, tài trợ khủng bố, tiền ảo còn thể hiện sự bất ổn định và có khả năng đe dọa đến các đồng tiền pháp định, từ đó tác động đến ổn định tài chính và chính sách tiền tệ. Có lẽ vì lý do này đã khiến nhiều chính phủ thận trọng hoặc quay lưng với tiền ảo.

Báo cáo trên nói rằng Bahamas và Campuchia đang là hai nước có điểm số cao nhất ở mảng tiền kỹ thuật số bán lẻ, vì dự án tiền số của các nước này đã chính thức "lên sóng". Đồng tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương Campuchia được phát hành vào tháng 10/2020, có tên là Bakong với một phần mềm được triển khai trên ứng dụng trên điện thoại di động để thực hiện các giao dịch bằng đồng tiền kỹ thuật số này, với đầu vào là đồng Riel của Campuchia hay đồng USD. Hiện nay đã có tới gần 1/2 dân số Campuchia sử dụng tiền kỹ thuật số. Gần đây nhất, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã chính thức phát hành đồng Nhân dân tệ số và đang tạo ra sự thách thức lớn đối với đồng Đô la Mỹ.

Thực tế cho thấy, hàng loạt đồng tiền ảo, hay còn gọi là tiền mã hóa đã trở nên phổ biến, có sàn giao dịch riêng, vốn hóa hàng chục tỷ USD, được xem như một “thang đo kinh tế” hàng ngày, như giá dầu mỏ, giá vàng, giá USD. Cùng với đó, thị trường tài sản ảo, nhất là NFT (Non-fungible token) có giá trị thương mại tăng hàng tỷ USD mỗi năm trên toàn cầu… Đó là xu hướng tất yếu của quá trình số hóa cũng như sự phát triển của công nghệ mới. Còn tại Việt Nam, với tiền ảo và tài sản ảo thì chưa rõ ràng, nhiều chuyên gia cho rằng, nếu chậm quá, Việt Nam sẽ bỏ qua cơ hội phát triển trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, việc sớm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tài sản ảo, tiền ảo là điều hết sức cần thiết.

Ngô Chí Tùng

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 5,93 USD/ounce lên mức 4.035,7 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500.000 - 1 triệu đồng/lượng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua kế hoạch rót thêm tối đa 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life, nâng vốn điều lệ lên 4.300 tỷ đồng, qua đó đưa doanh nghiệp vào nhóm bảo hiểm nhân thọ có vốn lớn trên thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Techcom Life đang tăng tốc mạnh ở mảng khai thác mới.
MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

(TBTCO) - Ngân hàng MB chốt ngày 10/7 là ngày đăng ký cuối cùng nhận cổ tức tiền mặt 10%, với tổng giá trị chi trả khoảng 8.055 tỷ đồng. Song song, ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn lớn, hướng tới vốn điều lệ hơn 102.687 tỷ đồng và bứt tốc nhiều chỉ tiêu năm nay.
Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

(TBTCO) - Bà Nguyễn Thị Hằng đã được trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Tân Tổng Giám đốc cam kết kế thừa thành quả của các thế hệ lãnh đạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và mở rộng tiếp cận vốn cho người nghèo.
Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

Bảo hiểm Bảo Việt triển khai ưu đãi “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm”, khuyến khích xu hướng chủ động bảo vệ tương lai

(TBTCO) - Diễn ra từ ngày 1/7 đến 30/9/2026 với hơn 5.000 ưu đãi, chương trình “Sẵn sàng bảo vệ - Nhận quà an tâm” được Bảo hiểm Bảo Việt triển khai như một phần trong nỗ lực thúc đẩy văn hóa chủ động bảo vệ tài chính - gia đình.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17595 17868 18441
CAD 17968 18243 18855
CHF 31862 32243 32893
CNY 0 3834 3927
EUR 29311 29531 30609
GBP 34134 34524 35466
HKD 0 3221 3423
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14616 15206
SGD 19768 20050 20616
THB 705 768 821
USD (1,2) 26029 0 0
USD (5,10,20) 26070 0 0
USD (50,100) 26099 26113 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26465
AUD 17784 17884 18807
CAD 18146 18246 19260
CHF 32096 32126 33716
CNY 3814.4 3839.4 3974.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31233
GBP 34428 34478 36246
HKD 0 3355 0
JPY 158.24 158.74 169.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14730 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,128 26,178 26,465
USD20 26,128 26,178 26,465
USD1 23,946 26,178 26,465
AUD 17,830 17,930 19,037
EUR 29,667 29,667 31,075
CAD 18,098 18,198 19,501
SGD 19,987 20,137 20,691
JPY 158.62 160.12 164.67
GBP 34,247 34,597 35,600
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80