Cân bằng mục tiêu mở rộng quyền lợi và tính bền vững trong chính sách

Mai Lâm
Theo Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Phạm Lương Sơn, cần cân bằng mục tiêu mở rộng quyền lợi và tính bền vững trong chính sách bảo hiểm y tế (BHYT).
aa

bm

Sử dụng ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID khi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: BHXH VN

Quyền lợi cho người tham gia ngày càng mở rộng

Ông Phạm Lương Sơn cho biết, trong thời gian phòng chống dịch Covid-19, để đảm bảo quyền lợi của người tham gia, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã tiếp tục tích cực tham gia với các bộ, ngành hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho người tham gia BHYT, như: cấp thuốc dài ngày, cấp thuốc cho người bệnh mãn tính từ 2 - 3 tháng, tránh cho người bệnh phải đến cơ sở y tế nhiều lần…

BHXH Việt Nam, BHXH các địa phương cũng đã chủ động và tích cực cải cách hành chính trong lĩnh vực BHYT, như: ứng dụng công nghệ thông tin trong khai báo, lập danh sách, tổ chức đại lý, thanh toán trực tiếp chi phí, phản hồi, cung cấp thông tin và hiện nay là sử dụng thẻ BHYT điện tử trên ứng dụng BHXH số - VssID…, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh.

Cũng theo ông Sơn, chính sách BHYT đã góp phần giảm chi trực tiếp từ tiền túi hộ gia đình cho dịch vụ y tế. Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, tỷ lệ chi trực tiếp từ tiền túi người dân cho các dịch vụ y tế đã giảm từ 49% năm 2012 xuống còn khoảng 43% trong tổng chi tiêu y tế hiện nay. Con số này vẫn còn ở mức khá cao, nhưng cho thấy xu hướng giảm dần, hướng tới sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, nhất là với nhóm người nghèo, cận nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi.

Luật BHYT hiện hành cũng quy định gói quyền lợi của người tham gia BHYT rất rộng, bao phủ hầu hết các dịch vụ mà ngành Y tế Việt Nam có thể cung cấp, kể cả các dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn. Việt Nam cũng là số ít các nước mà quỹ BHYT chi trả cả cho việc điều trị các bệnh hiếm...

Về phạm vi khám chữa bệnh (KCB), bên cạnh các dịch vụ điều trị, Quỹ BHYT đã chi trả cả cho các dịch vụ phục hồi chức năng, khám thai định kỳ và sinh con. Danh mục thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật cũng được điều chỉnh thường xuyên (tên loại, hạng bệnh viện được sử dụng, tỷ lệ chi trả) để phù hợp với nhu cầu KCB, sự phát triển khoa học kỹ thuật và hiệu quả sử dụng quỹ BHYT.

Một số nhóm đối tượng không phải áp dụng cùng chi trả chi phí; mức hưởng BHYT khi KCB trái tuyến cũng được điều chỉnh tăng lên trong Luật BHYT 2014.

Năm 2020, cả nước có trên 167,220 triệu lượt người KCB nội trú và ngoại trú trong năm 2020. Tuy số lượt KCB giảm 16,89 triệu lượt người (9,18%) so với năm 2019 do thời gian giãn cách, người dân hạn chế đến bệnh viện, song số tiền chi KCB BHYT ước khoảng trên 102.940 tỷ đồng, tăng trên 2.740 tỷ đồng (2,7%) so với năm 2019, do chi phí điều trị bình quân tại các sở KCB vẫn gia tăng.

Trong 5 tháng đầu năm 2021, cả nước cũng có trên 65,3 triệu lượt KCB BHYT, với số chi trên 42.000 tỷ đồng (tăng 12%) so với cùng kỳ 2020.

Đảm bảo bền vững tài chính

Đánh giá về thực trạng sử dụng quỹ KCB BHYT hiện nay, ông Phạm Lương Sơn cho biết, về mặt tích cực, số lượt, số chi KCB BHYT tăng nhanh trong thời gian qua thể hiện sự quan tâm ngày càng cao của người dân đến chính sách BHYT, cũng như sự đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT.

Mặt khác, mức tăng chi gia tăng nhanh cũng cho thấy những vấn đề đáng lo ngại trong việc đảm bảo an toàn quỹ BHYT. Từ năm 2017 đến nay, Quỹ BHYT luôn có số chi cao hơn số thu. Tỷ lệ đi KCB không đúng tuyến, điều trị nội trú đều có xu hướng tăng cao...

Bên cạnh đó, chúng ta vẫn chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và mức đóng BHYT khi mở rộng phạm vi bao phủ và quyền lợi, ảnh hưởng đến sự an toàn của quỹ BHYT. Văn bản pháp luật lĩnh vực BHYT cũng thiếu cơ chế xử lý đối với các trường hợp vi phạm hợp đồng KCB BHYT, làm ảnh hưởng đến quyền lợi người bệnh, có thể gây thất thoát quỹ BHYT...

Theo ông Sơn, kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, để đạt được mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân thông qua BHYT, không có cách nào khác là phải phát triển BHYT bền vững, đảm bảo được hai yêu cầu rất cơ bản. Đó là, phải bao phủ đến mọi người, hay còn gọi là BHYT toàn dân, để không ai phải đi KCB mà không có BHYT; đồng thời, phải bảo đảm bền vững về tài chính. Đây là vấn đề rất quan trọng với Việt Nam hiện nay, khi tình trạng bội chi quỹ KCB BHYT vẫn đang tiếp diễn.

Thời gian vừa qua, để đảm bảo việc sử dụng quỹ KCB BHYT an toàn, hiệu quả, BHXH Việt Nam cũng yêu cầu cơ sở KCB, BHXH các tỉnh giám sát điều trị nội trú, tránh tình trạng cơ sở y tế cố tình “đẩy” bệnh nhân vào điều trị nội trú để tăng nguồn thu… Đồng thời, BHXH phối hợp với Bộ Y tế tham gia dự án Luật BHYT sửa đổi; tập trung giải quyết vướng mắc trong thanh toán chi phí thuốc thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT…

Hiện nay, phương thức thanh toán theo giá dịch vụ đang cho thấy những hạn chế, khi tạo ra sự “khuyến khích” các cơ sở KCB tăng chỉ định, dịch vụ y tế cho bệnh nhân BHYT, làm gia tăng chi phí phí, lợi dụng, trục lợi quỹ BHYT từ phía cơ sở KCB, từ người tham gia BHYT, dẫn đến bội chi quỹ KCB BHYT. Do đó, việc đổi mới phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT cũng đang được BHXH Việt Nam và Bộ Y tế xúc tiến, đẩy nhanh tiến độ để khắc phục.

Thông tư hướng dẫn thanh toán chi phí KCB theo định suất cho KCB ngoại trú đã được Bộ Y tế ban hành, có hiệu lực từ 1/7/2021. Thông tư hướng dẫn thanh toán chi phí KCB theo trường hợp bệnh (DRG) cho thanh toán chi phí KCB BHYT nội trú cũng đang hoàn thiện, dự kiến sẽ được ký ban hành trong năm 2021… Những thay đổi này dự kiến sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong thực hiện chính sách BHYT và giám sát sử dụng quỹ KCB BHYT…

Mai Lâm

Mai Lâm

Đọc thêm

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 17,250
Kim TT/AVPL 16,940 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,500 15,700
Nguyên Liệu 99.9 15,450 15,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 17,020
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 16,970
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 16,950
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 17,250
Miếng SJC Nghệ An 16,950 17,250
Miếng SJC Thái Bình 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 17,200
NL 99.90 15,500
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530
Trang sức 99.9 16,390 17,090
Trang sức 99.99 16,400 17,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 17,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 17,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 172
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 168,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 128,038
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 116,102
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 104,165
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 99,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 71,256
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cập nhật: 08/04/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80