Chiến lược gia cố "bộ đệm" CAR cho các ngân hàng

ThS. Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Số liệu Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản hệ thống tổ chức tín dụng tăng 18% vượt 27 triệu tỷ đồng, trong khi vốn điều lệ chỉ tăng hơn 10%. Tăng vốn điều lệ là bước đi chiến lược đảm bảo hệ số CAR theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN và tạo dư địa tăng tín dụng, qua đó, đòi hỏi chiến lược tăng vốn phù hợp cho 3 nhóm ngân hàng.
aa

Quy mô tài sản càng lớn, áp lực an toàn càng cao

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt 27.058,28 nghìn tỷ đồng, tăng 18% so với cuối năm 2024. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy dòng chảy tín dụng và hoạt động đầu tư đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bắt nhịp cùng đà phục hồi nhu cầu vốn của thị trường.

Cùng với đó, vốn chủ sở hữu đạt 1.651,14 nghìn tỷ đồng, tăng thêm 231,48 nghìn tỷ đồng (tăng 16,6%), trong khi vốn điều lệ đạt 1.238,6 nghìn tỷ đồng, tăng 114,8 nghìn tỷ đồng (tăng 10,22%) so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn, đặc biệt là vốn điều lệ, vẫn thấp hơn nhịp tăng của tổng tài sản, cho thấy áp lực ngày càng lớn trong việc duy trì các tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao năng lực chống chịu rủi ro và tạo dư địa tăng trưởng tín dụng năm 2026 và các năm tới.

Chiến lược gia cố
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Số liệu về vốn điều lệ của 28 ngân hàng tính đến cuối tháng 11/2025 cũng cho thấy bức tranh phân hóa ngày càng rõ nét về quy mô và sức mạnh tài chính trong hệ thống. Ở nhóm dẫn đầu, với vốn điều lệ trên 70.000 tỷ đồng, nổi bật là hai ngân hàng thuộc nhóm “tứ trụ” cùng các ngân hàng tư nhân quy mô lớn. Theo đó, Vietcombank hiện giữ vị trí số một với 83.557 tỷ đồng, tiếp tục là ngân hàng có nền vốn mạnh nhất toàn hệ thống. Xếp sau lần lượt là MB với 80.550 tỷ đồng, VPBank đạt 79.339 tỷ đồng, Techcombank với 70.862 tỷ đồng và BIDV đạt 70.214 tỷ đồng.

Ở phân khúc quy mô trung bình, với vốn điều lệ dao động trong khoảng 30.000 - 60.000 tỷ đồng, nổi bật là nhóm ngân hàng có vị thế vững trên thị trường. Trong đó, VietinBank đạt 53.699 tỷ đồng, Agribank ở mức 51.639 tỷ đồng, ACB đạt 51.366 tỷ đồng, tiếp đến là SHB với 45.942 tỷ đồng, HDBank đạt 38.594 tỷ đồng, VIB ở mức 34.040 tỷ đồng và MSB đạt 31.200 tỷ đồng. Đây là nhóm ngân hàng duy trì nhịp tăng trưởng tương đối ổn định và đã hoàn tất nhiều đợt tăng vốn những năm gần đây.

Vốn điều lệ dày, bộ đệm an toàn càng chắc

Vốn điều lệ là thành phần cơ bản của Vốn cấp 1 (Tier 1), đóng vai trò cốt lõi trong việc tính toán tỷ lệ CAR và các bộ đệm vốn. Ngân hàng có vốn điều lệ lớn (Vietcombank, MB, VPBank) có lợi thế mẫu số lớn hơn trong công thức tính CAR, giúp họ dễ dàng đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) 2,5%, mà không bị giới hạn trong việc chia cổ tức hoặc chi trả thưởng. Nói cách khác, bộ đệm an toàn vốn của họ dày hơn và khả năng hấp thụ cú sốc là cao hơn.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) hợp nhất cao nhất hệ thống tại thời điểm cuối năm 2024, đạt 15,5%. Sang cuối quý III/2025, CAR hợp nhất giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước, xuống còn 13,61%. Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng nhanh, tăng 6,4%, cao hơn tốc độ tăng của vốn tự có 4,8%.

Còn với VietinBank, CAR hợp nhất của VietinBank trong quý II/2025 tăng lên 10,29%, so với 9,54% cuối năm 2024, phản ánh nỗ lực củng cố năng lực tài chính và quản trị rủi ro, song vẫn là ngân hàng có CAR thấp trong toàn ngành. Trong bối cảnh nhu cầu mở rộng tín dụng và quy mô hoạt động ngày càng lớn, mức CAR hiện tại vẫn đặt ra yêu cầu VietinBank tiếp tục tăng vốn nhằm tạo dư địa bền vững hơn cho tăng trưởng trong các giai đoạn tiếp theo.

Ngân hàng “chạy đà” nâng chuẩn CAR

Càng tiến về những tháng cuối năm 2025, nhịp độ tăng vốn trong hệ thống ngân hàng càng được đẩy nhanh. Theo đó, VietinBank đã hoàn tất việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với gần 2,4 tỷ cổ phiếu cho khoảng 55.800 cổ đông, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 53.700 tỷ đồng lên hơn 77.669 tỷ đồng. Nhờ đó, VietinBank tăng tốc mạnh mẽ, qua đó vươn lên nhóm 4 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống, chỉ xếp sau Vietcombank, MB và VPBank.

Không chỉ các ngân hàng lớn, nhiều ngân hàng quy mô vừa và nhỏ cũng tích cực gia tăng vốn. Saigonbank hoàn tất phát hành hơn 22 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 6,5%, nâng số cổ phiếu có quyền biểu quyết lên gần 361 triệu đơn vị, tăng vốn điều lệ từ 3.388 tỷ đồng lên 3.608 tỷ đồng.

NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu trong giai đoạn quý II - III/2026, thông qua chào bán riêng lẻ 10.000 tỷ đồng cho nhà đầu tư cá nhân, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 19.280 tỷ đồng lên gần 29.280 tỷ đồng.

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng cho rằng, ngân hàng phải cấp tốc tăng vốn điều lệ xuất phát từ nhiều yếu tố, nhằm tăng trích lập dự phòng rủi ro, mở rộng nguồn vốn trung và dài hạn, tăng cường đầu tư cho công nghệ và đặc biệt là nâng hệ số CAR. Bởi trên thực tế, dù vốn điều lệ liên tục được bổ sung, mặt bằng CAR của các ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp so với khu vực.

Cùng với đó, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN (Thông tư 14) thiết lập khuôn khổ yêu cầu CAR nghiêm ngặt hơn đối với ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo lộ trình tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo quy định, từ năm 2030, các ngân hàng sẽ phải duy trì CAR tối thiểu 10,5%, cao hơn đáng kể mức 8% hiện hành.

Năm 2026 được dự báo là thời điểm nhiều ngân hàng sẽ tăng tốc áp dụng các trụ cột nâng cao của Basel III và đối mặt với rủi ro thị trường, tín dụng sau chu kỳ tăng nóng. Vì vậy, tăng cường năng lực hấp thụ rủi ro bằng cách tăng vốn điều lệ lớn hơn củng cố khả năng của ngân hàng chống chịu với các cú sốc bất lợi như: nợ xấu gia tăng, rủi ro thị trường.

Cùng với đó, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như: Moody's, S&P Global Ratings, Fitch Ratings... ngày càng chú trọng đến việc áp dụng các tiêu chuẩn vốn quốc tế như Basel III. Do đó, tăng vốn là điều kiện tiên quyết để cải thiện xếp hạng, từ đó giảm chi phí huy động vốn trên thị trường quốc tế.

Cũng theo nguyên tắc của Basel, vốn phải đủ lớn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Ngân hàng có vốn lớn sẽ có “room” tín dụng dồi dào hơn để phục vụ nền kinh tế mà không vi phạm quy định về tỷ lệ CAR.

Chiến lược tăng vốn cho ba nhóm ngân hàng

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng khuyến nghị chiến lược vốn theo từng nhóm ngân hàng năm 2026 và các năm tới.

Theo đó, đối với nhóm ngân hàng dẫn đầu gồm: Vietcombank, MB, VPBank, Techcombank và BIDV, trọng tâm là duy trì tốc độ tăng vốn thông qua lợi nhuận giữ lại và phát hành cổ phiếu thưởng, đồng thời chú trọng nâng cao quản trị rủi ro và triển khai đầy đủ Basel III, đặc biệt là các chuẩn mực nâng cao liên quan đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế cao hơn như IFRS 9.

Với nhóm ngân hàng hạng trung gồm: VietinBank, Agribank, ACB, SHB, HDBank, VIB và MSB, ưu tiên hàng đầu là tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu mới và tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược; song song đó, cần tăng cường năng lực tính toán tài sản có rủi ro theo phương pháp nâng cao IRB (Internal Ratings-Based) nhằm tối ưu hóa vốn.

Hướng tới bảo đảm duy trì CAR vượt xa mức tối thiểu 10,5% (bao gồm 8% CAR và 2,5% CCB; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB).

Đối với nhóm ngân hàng nhỏ có vốn điều lệ dưới 30.000 tỷ đồng, tăng vốn được xem là nhiệm vụ sống còn; các ngân hàng cần cân nhắc phương án sáp nhập hoặc mua lại để gia tăng quy mô vốn, giảm chi phí hoạt động, hoặc tập trung vào các phân khúc thị trường ngách nhằm tối ưu hóa tỷ suất sinh lời trên vốn (ROE). Đồng thời, hoàn thành Basel II và tập trung xây dựng CCB để tránh bị giới hạn việc chia cổ tức.

ThS. Trần Trọng Triết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 42 USD/ounce lên 4.076 USD/ounce. Ở thị trường trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến phân hóa giữa các doanh nghiệp kinh doanh.
PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, "núi" nợ và lãi treo vẫn đè nặng

PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, "núi" nợ và lãi treo vẫn đè nặng

PVcomBank báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 1.023 tỷ đồng, tăng 25,9%, phần lớn do chi phí dự phòng được cắt giảm đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng tài sản vẫn chịu nhiều áp lực, với nợ xấu gần 4.600 tỷ đồng, phần lớn là nợ có khả năng mất vốn; bộ đệm dự phòng mỏng; hơn 23.200 tỷ đồng lãi, phí phải thu cùng hàng chục nghìn tỷ đồng nợ vẫn "treo" ngoại bảng chờ xử lý.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Hà Nội - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Miền Tây - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
NL 99.99 12,950 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▲50K
Trang sức 99.9 13,410 ▲50K 14,010 ▲50K
Trang sức 99.99 13,420 ▲50K 14,020 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 ▼1237K 14,102 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 ▼1237K 14,103 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,375 ▲10K 1,405 ▲1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,375 ▲10K 1,406 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲1211K 139 ▼1246K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲495K 137,624 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼84774K 10,441 ▼93594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲340K 94,679 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲305K 84,948 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲291K 81,195 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲43508K 58,119 ▲52328K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Cập nhật: 05/08/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17977 18251 18826
CAD 18131 18406 19022
CHF 31848 32229 32870
CNY 0 3852 3944
EUR 29665 29887 30963
GBP 34535 34927 35857
HKD 0 3218 3420
JPY 159 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15107 15694
SGD 19957 20239 20808
THB 707 770 823
USD (1,2) 26002 0 0
USD (5,10,20) 26043 0 0
USD (50,100) 26072 26086 26450
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,694 29,718 31,121
JPY 162.14 162.43 172.24
GBP 34,689 34,783 35,994
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,325 18,384 19,058
CHF 32,065 32,165 33,120
SGD 20,068 20,130 20,915
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.98 17.71 19.27
THB 753.32 762.62 815.94
NZD 15,098 15,238 15,693
SEK - 2,711 2,807
DKK - 3,983 4,123
NOK - 2,707 2,803
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,002.46 - 6,775.71
TWD 732 - 886.7
SAR - 6,875.17 7,240.99
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,060 26,080 26,460
EUR 29,728 29,847 31,043
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,281 3,294 3,411
CHF 31,923 32,051 32,981
JPY 162.61 163.26 171.20
AUD 18,154 18,227 18,826
SGD 20,138 20,219 20,815
THB 770 773 810
CAD 18,340 18,414 18,996
NZD 15,189 15,736
KRW 17.62 19.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26440
AUD 18143 18243 19169
CAD 18304 18404 19420
CHF 32060 32090 33672
CNY 3831.1 3856.1 3991.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29821 29851 31573
GBP 34804 34854 36614
HKD 0 3355 0
JPY 163.02 163.52 174.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15211 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20102 20232 20954
THB 0 733.9 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,090 26,140 26,470
USD20 26,040 26,140 26,625
USD1 24,135 26,140 26,675
AUD 18,192 18,292 19,429
EUR 29,630 29,730 31,418
CAD 18,266 18,366 19,692
SGD 20,184 20,334 20,912
JPY 163.67 165.17 170.87
GBP 34,714 34,864 35,965
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/08/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80