Chiến lược gia cố "bộ đệm" CAR cho các ngân hàng

ThS. Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Số liệu Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản hệ thống tổ chức tín dụng tăng 18% vượt 27 triệu tỷ đồng, trong khi vốn điều lệ chỉ tăng hơn 10%. Tăng vốn điều lệ là bước đi chiến lược đảm bảo hệ số CAR theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN và tạo dư địa tăng tín dụng, qua đó, đòi hỏi chiến lược tăng vốn phù hợp cho 3 nhóm ngân hàng.
aa

Quy mô tài sản càng lớn, áp lực an toàn càng cao

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt 27.058,28 nghìn tỷ đồng, tăng 18% so với cuối năm 2024. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy dòng chảy tín dụng và hoạt động đầu tư đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bắt nhịp cùng đà phục hồi nhu cầu vốn của thị trường.

Cùng với đó, vốn chủ sở hữu đạt 1.651,14 nghìn tỷ đồng, tăng thêm 231,48 nghìn tỷ đồng (tăng 16,6%), trong khi vốn điều lệ đạt 1.238,6 nghìn tỷ đồng, tăng 114,8 nghìn tỷ đồng (tăng 10,22%) so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn, đặc biệt là vốn điều lệ, vẫn thấp hơn nhịp tăng của tổng tài sản, cho thấy áp lực ngày càng lớn trong việc duy trì các tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao năng lực chống chịu rủi ro và tạo dư địa tăng trưởng tín dụng năm 2026 và các năm tới.

Chiến lược gia cố
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Số liệu về vốn điều lệ của 28 ngân hàng tính đến cuối tháng 11/2025 cũng cho thấy bức tranh phân hóa ngày càng rõ nét về quy mô và sức mạnh tài chính trong hệ thống. Ở nhóm dẫn đầu, với vốn điều lệ trên 70.000 tỷ đồng, nổi bật là hai ngân hàng thuộc nhóm “tứ trụ” cùng các ngân hàng tư nhân quy mô lớn. Theo đó, Vietcombank hiện giữ vị trí số một với 83.557 tỷ đồng, tiếp tục là ngân hàng có nền vốn mạnh nhất toàn hệ thống. Xếp sau lần lượt là MB với 80.550 tỷ đồng, VPBank đạt 79.339 tỷ đồng, Techcombank với 70.862 tỷ đồng và BIDV đạt 70.214 tỷ đồng.

Ở phân khúc quy mô trung bình, với vốn điều lệ dao động trong khoảng 30.000 - 60.000 tỷ đồng, nổi bật là nhóm ngân hàng có vị thế vững trên thị trường. Trong đó, VietinBank đạt 53.699 tỷ đồng, Agribank ở mức 51.639 tỷ đồng, ACB đạt 51.366 tỷ đồng, tiếp đến là SHB với 45.942 tỷ đồng, HDBank đạt 38.594 tỷ đồng, VIB ở mức 34.040 tỷ đồng và MSB đạt 31.200 tỷ đồng. Đây là nhóm ngân hàng duy trì nhịp tăng trưởng tương đối ổn định và đã hoàn tất nhiều đợt tăng vốn những năm gần đây.

Vốn điều lệ dày, bộ đệm an toàn càng chắc

Vốn điều lệ là thành phần cơ bản của Vốn cấp 1 (Tier 1), đóng vai trò cốt lõi trong việc tính toán tỷ lệ CAR và các bộ đệm vốn. Ngân hàng có vốn điều lệ lớn (Vietcombank, MB, VPBank) có lợi thế mẫu số lớn hơn trong công thức tính CAR, giúp họ dễ dàng đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) 2,5%, mà không bị giới hạn trong việc chia cổ tức hoặc chi trả thưởng. Nói cách khác, bộ đệm an toàn vốn của họ dày hơn và khả năng hấp thụ cú sốc là cao hơn.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) hợp nhất cao nhất hệ thống tại thời điểm cuối năm 2024, đạt 15,5%. Sang cuối quý III/2025, CAR hợp nhất giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước, xuống còn 13,61%. Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng nhanh, tăng 6,4%, cao hơn tốc độ tăng của vốn tự có 4,8%.

Còn với VietinBank, CAR hợp nhất của VietinBank trong quý II/2025 tăng lên 10,29%, so với 9,54% cuối năm 2024, phản ánh nỗ lực củng cố năng lực tài chính và quản trị rủi ro, song vẫn là ngân hàng có CAR thấp trong toàn ngành. Trong bối cảnh nhu cầu mở rộng tín dụng và quy mô hoạt động ngày càng lớn, mức CAR hiện tại vẫn đặt ra yêu cầu VietinBank tiếp tục tăng vốn nhằm tạo dư địa bền vững hơn cho tăng trưởng trong các giai đoạn tiếp theo.

Ngân hàng “chạy đà” nâng chuẩn CAR

Càng tiến về những tháng cuối năm 2025, nhịp độ tăng vốn trong hệ thống ngân hàng càng được đẩy nhanh. Theo đó, VietinBank đã hoàn tất việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với gần 2,4 tỷ cổ phiếu cho khoảng 55.800 cổ đông, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 53.700 tỷ đồng lên hơn 77.669 tỷ đồng. Nhờ đó, VietinBank tăng tốc mạnh mẽ, qua đó vươn lên nhóm 4 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống, chỉ xếp sau Vietcombank, MB và VPBank.

Không chỉ các ngân hàng lớn, nhiều ngân hàng quy mô vừa và nhỏ cũng tích cực gia tăng vốn. Saigonbank hoàn tất phát hành hơn 22 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 6,5%, nâng số cổ phiếu có quyền biểu quyết lên gần 361 triệu đơn vị, tăng vốn điều lệ từ 3.388 tỷ đồng lên 3.608 tỷ đồng.

NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu trong giai đoạn quý II - III/2026, thông qua chào bán riêng lẻ 10.000 tỷ đồng cho nhà đầu tư cá nhân, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 19.280 tỷ đồng lên gần 29.280 tỷ đồng.

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng cho rằng, ngân hàng phải cấp tốc tăng vốn điều lệ xuất phát từ nhiều yếu tố, nhằm tăng trích lập dự phòng rủi ro, mở rộng nguồn vốn trung và dài hạn, tăng cường đầu tư cho công nghệ và đặc biệt là nâng hệ số CAR. Bởi trên thực tế, dù vốn điều lệ liên tục được bổ sung, mặt bằng CAR của các ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp so với khu vực.

Cùng với đó, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN (Thông tư 14) thiết lập khuôn khổ yêu cầu CAR nghiêm ngặt hơn đối với ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo lộ trình tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo quy định, từ năm 2030, các ngân hàng sẽ phải duy trì CAR tối thiểu 10,5%, cao hơn đáng kể mức 8% hiện hành.

Năm 2026 được dự báo là thời điểm nhiều ngân hàng sẽ tăng tốc áp dụng các trụ cột nâng cao của Basel III và đối mặt với rủi ro thị trường, tín dụng sau chu kỳ tăng nóng. Vì vậy, tăng cường năng lực hấp thụ rủi ro bằng cách tăng vốn điều lệ lớn hơn củng cố khả năng của ngân hàng chống chịu với các cú sốc bất lợi như: nợ xấu gia tăng, rủi ro thị trường.

Cùng với đó, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như: Moody's, S&P Global Ratings, Fitch Ratings... ngày càng chú trọng đến việc áp dụng các tiêu chuẩn vốn quốc tế như Basel III. Do đó, tăng vốn là điều kiện tiên quyết để cải thiện xếp hạng, từ đó giảm chi phí huy động vốn trên thị trường quốc tế.

Cũng theo nguyên tắc của Basel, vốn phải đủ lớn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Ngân hàng có vốn lớn sẽ có “room” tín dụng dồi dào hơn để phục vụ nền kinh tế mà không vi phạm quy định về tỷ lệ CAR.

Chiến lược tăng vốn cho ba nhóm ngân hàng

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng khuyến nghị chiến lược vốn theo từng nhóm ngân hàng năm 2026 và các năm tới.

Theo đó, đối với nhóm ngân hàng dẫn đầu gồm: Vietcombank, MB, VPBank, Techcombank và BIDV, trọng tâm là duy trì tốc độ tăng vốn thông qua lợi nhuận giữ lại và phát hành cổ phiếu thưởng, đồng thời chú trọng nâng cao quản trị rủi ro và triển khai đầy đủ Basel III, đặc biệt là các chuẩn mực nâng cao liên quan đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế cao hơn như IFRS 9.

Với nhóm ngân hàng hạng trung gồm: VietinBank, Agribank, ACB, SHB, HDBank, VIB và MSB, ưu tiên hàng đầu là tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu mới và tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược; song song đó, cần tăng cường năng lực tính toán tài sản có rủi ro theo phương pháp nâng cao IRB (Internal Ratings-Based) nhằm tối ưu hóa vốn.

Hướng tới bảo đảm duy trì CAR vượt xa mức tối thiểu 10,5% (bao gồm 8% CAR và 2,5% CCB; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB).

Đối với nhóm ngân hàng nhỏ có vốn điều lệ dưới 30.000 tỷ đồng, tăng vốn được xem là nhiệm vụ sống còn; các ngân hàng cần cân nhắc phương án sáp nhập hoặc mua lại để gia tăng quy mô vốn, giảm chi phí hoạt động, hoặc tập trung vào các phân khúc thị trường ngách nhằm tối ưu hóa tỷ suất sinh lời trên vốn (ROE). Đồng thời, hoàn thành Basel II và tập trung xây dựng CCB để tránh bị giới hạn việc chia cổ tức.

ThS. Trần Trọng Triết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80