Chiến lược gia cố "bộ đệm" CAR cho các ngân hàng

ThS. Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Số liệu Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản hệ thống tổ chức tín dụng tăng 18% vượt 27 triệu tỷ đồng, trong khi vốn điều lệ chỉ tăng hơn 10%. Tăng vốn điều lệ là bước đi chiến lược đảm bảo hệ số CAR theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN và tạo dư địa tăng tín dụng, qua đó, đòi hỏi chiến lược tăng vốn phù hợp cho 3 nhóm ngân hàng.
aa

Quy mô tài sản càng lớn, áp lực an toàn càng cao

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt 27.058,28 nghìn tỷ đồng, tăng 18% so với cuối năm 2024. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy dòng chảy tín dụng và hoạt động đầu tư đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bắt nhịp cùng đà phục hồi nhu cầu vốn của thị trường.

Cùng với đó, vốn chủ sở hữu đạt 1.651,14 nghìn tỷ đồng, tăng thêm 231,48 nghìn tỷ đồng (tăng 16,6%), trong khi vốn điều lệ đạt 1.238,6 nghìn tỷ đồng, tăng 114,8 nghìn tỷ đồng (tăng 10,22%) so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn, đặc biệt là vốn điều lệ, vẫn thấp hơn nhịp tăng của tổng tài sản, cho thấy áp lực ngày càng lớn trong việc duy trì các tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao năng lực chống chịu rủi ro và tạo dư địa tăng trưởng tín dụng năm 2026 và các năm tới.

Chiến lược gia cố
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Số liệu về vốn điều lệ của 28 ngân hàng tính đến cuối tháng 11/2025 cũng cho thấy bức tranh phân hóa ngày càng rõ nét về quy mô và sức mạnh tài chính trong hệ thống. Ở nhóm dẫn đầu, với vốn điều lệ trên 70.000 tỷ đồng, nổi bật là hai ngân hàng thuộc nhóm “tứ trụ” cùng các ngân hàng tư nhân quy mô lớn. Theo đó, Vietcombank hiện giữ vị trí số một với 83.557 tỷ đồng, tiếp tục là ngân hàng có nền vốn mạnh nhất toàn hệ thống. Xếp sau lần lượt là MB với 80.550 tỷ đồng, VPBank đạt 79.339 tỷ đồng, Techcombank với 70.862 tỷ đồng và BIDV đạt 70.214 tỷ đồng.

Ở phân khúc quy mô trung bình, với vốn điều lệ dao động trong khoảng 30.000 - 60.000 tỷ đồng, nổi bật là nhóm ngân hàng có vị thế vững trên thị trường. Trong đó, VietinBank đạt 53.699 tỷ đồng, Agribank ở mức 51.639 tỷ đồng, ACB đạt 51.366 tỷ đồng, tiếp đến là SHB với 45.942 tỷ đồng, HDBank đạt 38.594 tỷ đồng, VIB ở mức 34.040 tỷ đồng và MSB đạt 31.200 tỷ đồng. Đây là nhóm ngân hàng duy trì nhịp tăng trưởng tương đối ổn định và đã hoàn tất nhiều đợt tăng vốn những năm gần đây.

Vốn điều lệ dày, bộ đệm an toàn càng chắc

Vốn điều lệ là thành phần cơ bản của Vốn cấp 1 (Tier 1), đóng vai trò cốt lõi trong việc tính toán tỷ lệ CAR và các bộ đệm vốn. Ngân hàng có vốn điều lệ lớn (Vietcombank, MB, VPBank) có lợi thế mẫu số lớn hơn trong công thức tính CAR, giúp họ dễ dàng đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) 2,5%, mà không bị giới hạn trong việc chia cổ tức hoặc chi trả thưởng. Nói cách khác, bộ đệm an toàn vốn của họ dày hơn và khả năng hấp thụ cú sốc là cao hơn.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) hợp nhất cao nhất hệ thống tại thời điểm cuối năm 2024, đạt 15,5%. Sang cuối quý III/2025, CAR hợp nhất giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước, xuống còn 13,61%. Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng nhanh, tăng 6,4%, cao hơn tốc độ tăng của vốn tự có 4,8%.

Còn với VietinBank, CAR hợp nhất của VietinBank trong quý II/2025 tăng lên 10,29%, so với 9,54% cuối năm 2024, phản ánh nỗ lực củng cố năng lực tài chính và quản trị rủi ro, song vẫn là ngân hàng có CAR thấp trong toàn ngành. Trong bối cảnh nhu cầu mở rộng tín dụng và quy mô hoạt động ngày càng lớn, mức CAR hiện tại vẫn đặt ra yêu cầu VietinBank tiếp tục tăng vốn nhằm tạo dư địa bền vững hơn cho tăng trưởng trong các giai đoạn tiếp theo.

Ngân hàng “chạy đà” nâng chuẩn CAR

Càng tiến về những tháng cuối năm 2025, nhịp độ tăng vốn trong hệ thống ngân hàng càng được đẩy nhanh. Theo đó, VietinBank đã hoàn tất việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với gần 2,4 tỷ cổ phiếu cho khoảng 55.800 cổ đông, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 53.700 tỷ đồng lên hơn 77.669 tỷ đồng. Nhờ đó, VietinBank tăng tốc mạnh mẽ, qua đó vươn lên nhóm 4 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống, chỉ xếp sau Vietcombank, MB và VPBank.

Không chỉ các ngân hàng lớn, nhiều ngân hàng quy mô vừa và nhỏ cũng tích cực gia tăng vốn. Saigonbank hoàn tất phát hành hơn 22 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 6,5%, nâng số cổ phiếu có quyền biểu quyết lên gần 361 triệu đơn vị, tăng vốn điều lệ từ 3.388 tỷ đồng lên 3.608 tỷ đồng.

NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu trong giai đoạn quý II - III/2026, thông qua chào bán riêng lẻ 10.000 tỷ đồng cho nhà đầu tư cá nhân, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 19.280 tỷ đồng lên gần 29.280 tỷ đồng.

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng cho rằng, ngân hàng phải cấp tốc tăng vốn điều lệ xuất phát từ nhiều yếu tố, nhằm tăng trích lập dự phòng rủi ro, mở rộng nguồn vốn trung và dài hạn, tăng cường đầu tư cho công nghệ và đặc biệt là nâng hệ số CAR. Bởi trên thực tế, dù vốn điều lệ liên tục được bổ sung, mặt bằng CAR của các ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp so với khu vực.

Cùng với đó, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN (Thông tư 14) thiết lập khuôn khổ yêu cầu CAR nghiêm ngặt hơn đối với ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo lộ trình tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo quy định, từ năm 2030, các ngân hàng sẽ phải duy trì CAR tối thiểu 10,5%, cao hơn đáng kể mức 8% hiện hành.

Năm 2026 được dự báo là thời điểm nhiều ngân hàng sẽ tăng tốc áp dụng các trụ cột nâng cao của Basel III và đối mặt với rủi ro thị trường, tín dụng sau chu kỳ tăng nóng. Vì vậy, tăng cường năng lực hấp thụ rủi ro bằng cách tăng vốn điều lệ lớn hơn củng cố khả năng của ngân hàng chống chịu với các cú sốc bất lợi như: nợ xấu gia tăng, rủi ro thị trường.

Cùng với đó, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như: Moody's, S&P Global Ratings, Fitch Ratings... ngày càng chú trọng đến việc áp dụng các tiêu chuẩn vốn quốc tế như Basel III. Do đó, tăng vốn là điều kiện tiên quyết để cải thiện xếp hạng, từ đó giảm chi phí huy động vốn trên thị trường quốc tế.

Cũng theo nguyên tắc của Basel, vốn phải đủ lớn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Ngân hàng có vốn lớn sẽ có “room” tín dụng dồi dào hơn để phục vụ nền kinh tế mà không vi phạm quy định về tỷ lệ CAR.

Chiến lược tăng vốn cho ba nhóm ngân hàng

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng khuyến nghị chiến lược vốn theo từng nhóm ngân hàng năm 2026 và các năm tới.

Theo đó, đối với nhóm ngân hàng dẫn đầu gồm: Vietcombank, MB, VPBank, Techcombank và BIDV, trọng tâm là duy trì tốc độ tăng vốn thông qua lợi nhuận giữ lại và phát hành cổ phiếu thưởng, đồng thời chú trọng nâng cao quản trị rủi ro và triển khai đầy đủ Basel III, đặc biệt là các chuẩn mực nâng cao liên quan đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế cao hơn như IFRS 9.

Với nhóm ngân hàng hạng trung gồm: VietinBank, Agribank, ACB, SHB, HDBank, VIB và MSB, ưu tiên hàng đầu là tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu mới và tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược; song song đó, cần tăng cường năng lực tính toán tài sản có rủi ro theo phương pháp nâng cao IRB (Internal Ratings-Based) nhằm tối ưu hóa vốn.

Hướng tới bảo đảm duy trì CAR vượt xa mức tối thiểu 10,5% (bao gồm 8% CAR và 2,5% CCB; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB).

Đối với nhóm ngân hàng nhỏ có vốn điều lệ dưới 30.000 tỷ đồng, tăng vốn được xem là nhiệm vụ sống còn; các ngân hàng cần cân nhắc phương án sáp nhập hoặc mua lại để gia tăng quy mô vốn, giảm chi phí hoạt động, hoặc tập trung vào các phân khúc thị trường ngách nhằm tối ưu hóa tỷ suất sinh lời trên vốn (ROE). Đồng thời, hoàn thành Basel II và tập trung xây dựng CCB để tránh bị giới hạn việc chia cổ tức.

ThS. Trần Trọng Triết

Đọc thêm

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,650 25,830 26,200
USD20 25,630 25,830 26,200
USD1 24,356 25,830 26,918
AUD 18,170 18,325 19,452
EUR 29,150 29,308 31,800
CAD 18,110 18,269 19,594
SGD 20,007 20,207 20,784
JPY 161.11 163.13 168.86
GBP 34,090 34,302 35,400
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30