Chiến lược gia cố "bộ đệm" CAR cho các ngân hàng

ThS. Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Số liệu Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản hệ thống tổ chức tín dụng tăng 18% vượt 27 triệu tỷ đồng, trong khi vốn điều lệ chỉ tăng hơn 10%. Tăng vốn điều lệ là bước đi chiến lược đảm bảo hệ số CAR theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN và tạo dư địa tăng tín dụng, qua đó, đòi hỏi chiến lược tăng vốn phù hợp cho 3 nhóm ngân hàng.
aa

Quy mô tài sản càng lớn, áp lực an toàn càng cao

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt 27.058,28 nghìn tỷ đồng, tăng 18% so với cuối năm 2024. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy dòng chảy tín dụng và hoạt động đầu tư đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bắt nhịp cùng đà phục hồi nhu cầu vốn của thị trường.

Cùng với đó, vốn chủ sở hữu đạt 1.651,14 nghìn tỷ đồng, tăng thêm 231,48 nghìn tỷ đồng (tăng 16,6%), trong khi vốn điều lệ đạt 1.238,6 nghìn tỷ đồng, tăng 114,8 nghìn tỷ đồng (tăng 10,22%) so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn, đặc biệt là vốn điều lệ, vẫn thấp hơn nhịp tăng của tổng tài sản, cho thấy áp lực ngày càng lớn trong việc duy trì các tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao năng lực chống chịu rủi ro và tạo dư địa tăng trưởng tín dụng năm 2026 và các năm tới.

Chiến lược gia cố
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Số liệu về vốn điều lệ của 28 ngân hàng tính đến cuối tháng 11/2025 cũng cho thấy bức tranh phân hóa ngày càng rõ nét về quy mô và sức mạnh tài chính trong hệ thống. Ở nhóm dẫn đầu, với vốn điều lệ trên 70.000 tỷ đồng, nổi bật là hai ngân hàng thuộc nhóm “tứ trụ” cùng các ngân hàng tư nhân quy mô lớn. Theo đó, Vietcombank hiện giữ vị trí số một với 83.557 tỷ đồng, tiếp tục là ngân hàng có nền vốn mạnh nhất toàn hệ thống. Xếp sau lần lượt là MB với 80.550 tỷ đồng, VPBank đạt 79.339 tỷ đồng, Techcombank với 70.862 tỷ đồng và BIDV đạt 70.214 tỷ đồng.

Ở phân khúc quy mô trung bình, với vốn điều lệ dao động trong khoảng 30.000 - 60.000 tỷ đồng, nổi bật là nhóm ngân hàng có vị thế vững trên thị trường. Trong đó, VietinBank đạt 53.699 tỷ đồng, Agribank ở mức 51.639 tỷ đồng, ACB đạt 51.366 tỷ đồng, tiếp đến là SHB với 45.942 tỷ đồng, HDBank đạt 38.594 tỷ đồng, VIB ở mức 34.040 tỷ đồng và MSB đạt 31.200 tỷ đồng. Đây là nhóm ngân hàng duy trì nhịp tăng trưởng tương đối ổn định và đã hoàn tất nhiều đợt tăng vốn những năm gần đây.

Vốn điều lệ dày, bộ đệm an toàn càng chắc

Vốn điều lệ là thành phần cơ bản của Vốn cấp 1 (Tier 1), đóng vai trò cốt lõi trong việc tính toán tỷ lệ CAR và các bộ đệm vốn. Ngân hàng có vốn điều lệ lớn (Vietcombank, MB, VPBank) có lợi thế mẫu số lớn hơn trong công thức tính CAR, giúp họ dễ dàng đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) 2,5%, mà không bị giới hạn trong việc chia cổ tức hoặc chi trả thưởng. Nói cách khác, bộ đệm an toàn vốn của họ dày hơn và khả năng hấp thụ cú sốc là cao hơn.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) hợp nhất cao nhất hệ thống tại thời điểm cuối năm 2024, đạt 15,5%. Sang cuối quý III/2025, CAR hợp nhất giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý trước, xuống còn 13,61%. Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ việc tổng tài sản có rủi ro tăng nhanh, tăng 6,4%, cao hơn tốc độ tăng của vốn tự có 4,8%.

Còn với VietinBank, CAR hợp nhất của VietinBank trong quý II/2025 tăng lên 10,29%, so với 9,54% cuối năm 2024, phản ánh nỗ lực củng cố năng lực tài chính và quản trị rủi ro, song vẫn là ngân hàng có CAR thấp trong toàn ngành. Trong bối cảnh nhu cầu mở rộng tín dụng và quy mô hoạt động ngày càng lớn, mức CAR hiện tại vẫn đặt ra yêu cầu VietinBank tiếp tục tăng vốn nhằm tạo dư địa bền vững hơn cho tăng trưởng trong các giai đoạn tiếp theo.

Ngân hàng “chạy đà” nâng chuẩn CAR

Càng tiến về những tháng cuối năm 2025, nhịp độ tăng vốn trong hệ thống ngân hàng càng được đẩy nhanh. Theo đó, VietinBank đã hoàn tất việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với gần 2,4 tỷ cổ phiếu cho khoảng 55.800 cổ đông, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 53.700 tỷ đồng lên hơn 77.669 tỷ đồng. Nhờ đó, VietinBank tăng tốc mạnh mẽ, qua đó vươn lên nhóm 4 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống, chỉ xếp sau Vietcombank, MB và VPBank.

Không chỉ các ngân hàng lớn, nhiều ngân hàng quy mô vừa và nhỏ cũng tích cực gia tăng vốn. Saigonbank hoàn tất phát hành hơn 22 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 6,5%, nâng số cổ phiếu có quyền biểu quyết lên gần 361 triệu đơn vị, tăng vốn điều lệ từ 3.388 tỷ đồng lên 3.608 tỷ đồng.

NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu trong giai đoạn quý II - III/2026, thông qua chào bán riêng lẻ 10.000 tỷ đồng cho nhà đầu tư cá nhân, qua đó, nâng vốn điều lệ từ 19.280 tỷ đồng lên gần 29.280 tỷ đồng.

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng cho rằng, ngân hàng phải cấp tốc tăng vốn điều lệ xuất phát từ nhiều yếu tố, nhằm tăng trích lập dự phòng rủi ro, mở rộng nguồn vốn trung và dài hạn, tăng cường đầu tư cho công nghệ và đặc biệt là nâng hệ số CAR. Bởi trên thực tế, dù vốn điều lệ liên tục được bổ sung, mặt bằng CAR của các ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp so với khu vực.

Cùng với đó, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN (Thông tư 14) thiết lập khuôn khổ yêu cầu CAR nghiêm ngặt hơn đối với ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo lộ trình tiệm cận chuẩn mực Basel III. Theo quy định, từ năm 2030, các ngân hàng sẽ phải duy trì CAR tối thiểu 10,5%, cao hơn đáng kể mức 8% hiện hành.

Năm 2026 được dự báo là thời điểm nhiều ngân hàng sẽ tăng tốc áp dụng các trụ cột nâng cao của Basel III và đối mặt với rủi ro thị trường, tín dụng sau chu kỳ tăng nóng. Vì vậy, tăng cường năng lực hấp thụ rủi ro bằng cách tăng vốn điều lệ lớn hơn củng cố khả năng của ngân hàng chống chịu với các cú sốc bất lợi như: nợ xấu gia tăng, rủi ro thị trường.

Cùng với đó, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như: Moody's, S&P Global Ratings, Fitch Ratings... ngày càng chú trọng đến việc áp dụng các tiêu chuẩn vốn quốc tế như Basel III. Do đó, tăng vốn là điều kiện tiên quyết để cải thiện xếp hạng, từ đó giảm chi phí huy động vốn trên thị trường quốc tế.

Cũng theo nguyên tắc của Basel, vốn phải đủ lớn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Ngân hàng có vốn lớn sẽ có “room” tín dụng dồi dào hơn để phục vụ nền kinh tế mà không vi phạm quy định về tỷ lệ CAR.

Chiến lược tăng vốn cho ba nhóm ngân hàng

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viện Ngân hàng khuyến nghị chiến lược vốn theo từng nhóm ngân hàng năm 2026 và các năm tới.

Theo đó, đối với nhóm ngân hàng dẫn đầu gồm: Vietcombank, MB, VPBank, Techcombank và BIDV, trọng tâm là duy trì tốc độ tăng vốn thông qua lợi nhuận giữ lại và phát hành cổ phiếu thưởng, đồng thời chú trọng nâng cao quản trị rủi ro và triển khai đầy đủ Basel III, đặc biệt là các chuẩn mực nâng cao liên quan đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế cao hơn như IFRS 9.

Với nhóm ngân hàng hạng trung gồm: VietinBank, Agribank, ACB, SHB, HDBank, VIB và MSB, ưu tiên hàng đầu là tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu mới và tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược; song song đó, cần tăng cường năng lực tính toán tài sản có rủi ro theo phương pháp nâng cao IRB (Internal Ratings-Based) nhằm tối ưu hóa vốn.

Hướng tới bảo đảm duy trì CAR vượt xa mức tối thiểu 10,5% (bao gồm 8% CAR và 2,5% CCB; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB).

Đối với nhóm ngân hàng nhỏ có vốn điều lệ dưới 30.000 tỷ đồng, tăng vốn được xem là nhiệm vụ sống còn; các ngân hàng cần cân nhắc phương án sáp nhập hoặc mua lại để gia tăng quy mô vốn, giảm chi phí hoạt động, hoặc tập trung vào các phân khúc thị trường ngách nhằm tối ưu hóa tỷ suất sinh lời trên vốn (ROE). Đồng thời, hoàn thành Basel II và tập trung xây dựng CCB để tránh bị giới hạn việc chia cổ tức.

ThS. Trần Trọng Triết

Đọc thêm

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Thông tư mới về xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân, dự kiến thực hiện từ năm 2028 trên cơ sở số liệu kiểm toán năm 2027. Điểm mới là chuyển từ thang 100 điểm sang 4 điểm, kết hợp đánh giá định lượng và định tính, đồng thời bổ sung, điều chỉnh nhiều chỉ tiêu và trọng số đánh giá.
Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
Trang sức 99.9 13,360 ▲150K 13,960 ▲150K
Trang sức 99.99 13,370 ▲150K 13,970 ▲150K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▲18K 14,242 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▲18K 14,243 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 ▲28K 1,405 ▲28K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 ▲28K 1,406 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲28K 1,395 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 ▲2772K 138,119 ▲2772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 ▲2100K 104,785 ▲2100K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 ▲1904K 95,019 ▲1904K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 ▲1709K 85,254 ▲1709K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 ▲1633K 81,487 ▲1633K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 ▲43791K 58,327 ▲52611K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cập nhật: 04/11/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17491 17764 18340
CAD 17883 18157 18776
CHF 30801 31178 31825
CNY 0 3809 3906
EUR 28289 28505 29585
GBP 33850 34240 35175
HKD 0 3146 3348
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14161 14753
SGD 19571 19852 20422
THB 679 742 796
USD (1,2) 25447 0 0
USD (5,10,20) 25484 0 0
USD (50,100) 25511 25525 25895
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,550 25,550 25,930
USD(1-2-5) 24,528 - -
USD(10-20) 24,528 - -
EUR 28,331 28,354 29,704
JPY 158.27 158.56 168.19
GBP 34,022 34,114 35,300
AUD 17,648 17,712 18,386
CAD 18,079 18,137 18,810
CHF 31,091 31,188 32,119
SGD 19,701 19,762 20,540
CNY - 3,780 3,926
HKD 3,214 3,224 3,360
KRW 17.68 18.44 20.06
THB 728.59 737.59 789.86
NZD 14,116 14,247 14,675
SEK - 2,593 2,686
DKK - 3,801 3,936
NOK - 2,732 2,830
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,912.26 - 6,675.92
TWD 708.02 - 857.89
SAR - 6,739.23 7,100.3
KWD - 81,354 86,581
AED - 6,753 7,278
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25530 25530 25890
AUD 17683 17783 18708
CAD 18079 18179 19191
CHF 31092 31122 32703
CNY 3792.4 3817.4 3952.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28502 28532 30257
GBP 34188 34238 35996
HKD 0 3300 0
JPY 158.83 159.33 169.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14293 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19741 19871 20592
THB 0 709 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12000000 12000000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,445 25,565 25,900
USD20 25,415 25,565 25,900
USD1 25,395 25,565 25,900
AUD 17,558 17,708 18,875
EUR 28,256 28,356 30,014
CAD 18,020 18,120 19,428
SGD 19,813 19,963 20,517
JPY 159.73 161.23 166.8
GBP 34,034 34,184 35,496
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,773 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/11/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30