Diễn biến thực tế sau 2 tuần FED giảm lãi suất và các ẩn số phía trước

Chí Tín
(TBTCO) - Trải qua gần 2 tuần kể từ thời điểm Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) chính thức giảm lãi suất, thị trường chung đã dần đi vào quỹ đạo, nhưng cũng còn có các yếu tố cho thấy bức tranh tiền tệ cả trong và ngoài nước vẫn ẩn khuất nhiều kịch tính.
aa
Diễn biến thực tế sau 2 tuần FED giảm lãi suất và các ẩn số phía trước
Việc FED giảm lãi suất tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước linh hoạt hơn trong điều hành chính sách tiền tệ. Ảnh tư liệu.

USD duy trì mức giá thấp

Tại thời điểm sáng ngày 1/10 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD ghi nhận mức 100,7 điểm. Theo đó, đồng USD đã rơi vào trạng thái chững lại và đi ngang kể từ sau khi FED chính thức công bố cắt giảm 50 điểm cơ bản lãi suất cách đây 2 tuần. Cụ thể, chỉ số DXY ghi nhận hôm 19/9 vẫn dao động quanh mốc khoảng dưới 101 điểm.

Trước đó, chỉ số DXY đã có một chu kỳ giảm mạnh từ mốc trên 106 điểm vào giữa năm 2024 xuống mốc quanh 101 điểm vào giữa tháng 9 và lý do đồng tiền này giảm giá chính vì các dự báo của giới tài chính về hành động FED giảm lãi suất trong tháng 9. Ông Lynette Zang - Nhà sáng lập và Tổng Giám đốc điều hành của Zang Enterprises trong nội dung trả lời trang tin tức tài chính Kitco News cho biết, nền kinh tế Mỹ có thể sẽ chứng kiến ​​nhiều hoạt động vay mượn hơn, còn Chính phủ thực hiện chu kỳ nới lỏng tiền tệ đang là yếu tố làm cho đồng USD mất dần giá trị.

Trong khi đó với thị trường trong nước, tỷ giá bán ra tại Vietcombank sáng ngày 1/10 ghi nhận ở mức 24.730 đồng/USD, cũng vẫn duy trì ở mặt bằng khá ổn định trong giai đoạn từ giữa tháng 9 đến nay. Ông Đinh Quang Hinh - Trưởng bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường thuộc Công ty cổ phần chứng khoán VNDirect cho biết, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 30% tổng giá trị nhập khẩu của nước ta. Theo đó, việc FED giảm lãi suất tạo điều kiện để Ngân hàng Nhà nước linh hoạt hơn trong điều hành chính sách tiền tệ, chuyển hướng ưu tiên sang hỗ trợ thanh khoản hệ thống và duy trì môi trường lãi suất thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. “Ngân hàng Nhà nước cũng có thể thực hiện hiệu quả việc bơm tiền qua thị trường mở và mua vào dự trữ ngoại hối để tăng cung tiền đồng nhằm cải thiện tăng trưởng cung tiền, vốn rất chậm kể từ đầu năm nay” - ông Hinh nhận định.

Ẩn số vẫn còn phía trước

Mặc dù chỉ số đồng USD đã duy trì mặt bằng thấp kể từ khi FED chính thức hạ lãi suất đã nằm trong dự báo của nhiều chuyên gia cả trong và ngoài nước, nhưng diễn biến đồng tiền này sẽ giảm tiếp hoặc phục hồi hay không sẽ còn là ẩn số.

Về khả năng giảm thêm của đồng USD, thực tế cho thấy việc chỉ số DXY đã giảm giá khá mạnh khoảng 5% chỉ trong 3 tháng từ tháng (6 đến tháng 9/2024) ngay cả khi FED chưa chính thức thực hiện động giảm lãi suất cho thấy thị trường đã phán ứng sớm trước hành động của FED. Nói cách khác, tác động giảm lãi suất đã được thể hiện trước vào giá hiện tại của đồng USD trong suốt giai đoạn hơn 3 tháng qua.

Ngoài ra, chu kỳ giảm lãi suất cũng không chỉ diễn ra tại Mỹ mà cũng còn đang diễn ra tại nhiều nền kinh tế trên thế giới và các yếu tố này cũng có thể làm cho các đồng tiền của họ cũng yếu đi chứ không riêng đồng USD. Trong đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng đã cắt giảm lãi suất thêm 25 điểm cơ bản xuống còn 3,5% vào giữa tháng 9 vừa qua. Tại châu Á, Ngân hàng Trung ương Indonesia (BI) cũng đã quyết định hạ lãi suất 25 điểm cơ bản ngay trước thời điểm FED công bố giảm lãi suất tháng 9.

Trong khi đó, diễn biến của nền kinh tế Mỹ nói chung và của đồng USD nói riêng cũng còn phụ thuộc cả vào các yếu tố chính trị, trong đó có cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sẽ diễn ra tháng 11 tới. Ông Tống Quốc Đạt - Trưởng phòng Phân tích thị trường cấp cao Exness Investment Bank cho biết, nếu ông Donald Trump trúng cử tổng thống thì các chính sách sẽ có xu hướng tăng các rào cản thuế quan. “Ông Trump cũng không muốn duy trì các chính sách mở về nhập cư và điều này sẽ ảnh hưởng thị trường lao động, các chi phí lao động sẽ tăng cao đối với nền kinh tế Mỹ” - ông Đạt dự báo.

Ngoài ra, các luận điểm tranh cử đang được ông Donald Trump bày tỏ cho biết, nếu trở thành Tổng thống ông sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để giữ USD là đồng tiền dự trữ của thế giới. Cụ thể, ông Trump cho biết đồng USD đã “bị bao vây nghiêm trọng” trong 8 năm qua và tuyên bố sẽ đấu tranh để giành lại vị thế của đồng tiền này.

Đối với Việt Nam, đồng USD nếu tăng giá trở lại trên thị trường quốc tế thì áp lực với tỷ giá có thể sẽ quay trở lại. Chẳng hạn như nhìn lại khi chỉ số đồng DXY ở mức trên 106 điểm tại những thời điểm tháng 4 và tháng 6, cũng là giai đoạn tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD cũng chịu áp lực rất cẳng thẳng. Tỷ giá bán ra tại Vietcombank có lúc đó ghi nhận mức bán ra trên 25.500 đồng/USD và Ngân hàng Nhà nước khi đó cũng phải thực hiện nhiều biện pháp can thiệp như tăng cường bán tín phiếu trên thị trường mở, bán ngoại tệ để can thiệp tỷ giá…

2 yếu tố trái chiều có thể tác động tỷ giá cuối năm

Ngoài các động thái thị trường quốc tế, 2 yếu tố “thông lệ” có tính chất mùa vụ có thể có tác động trái chiều nhau đối với tỷ giá trong nước. Một phía là nhu cầu nhập khẩu có thể tăng mạnh để chuẩn bị chu kỳ kinh doanh cận Tết, trong khi đó, kiều hối luôn là yếu tố giúp giải tỏa áp lực cho tỷ giá trong các dịp giáp Tết.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80