Doanh nghiệp bảo hiểm chuyển dịch dòng vốn, đón sóng đầu tư xanh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đặng Nguyễn Trường Tài - Giám đốc Đầu tư Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ Dai-ichi Life Việt Nam (DFVN) nhấn mạnh về vai trò trụ cột của ngành bảo hiểm trong cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Với chiến lược đầu tư thận trọng nhưng linh hoạt, DFVN đang từng bước “xanh hóa” danh mục đầu tư và nỗ lực đóng góp tích cực vào sự phát triển của thị trường vốn.
aa

PV: Trong bối cảnh nhu cầu vốn phát triển kinh tế ngày càng gia tăng, ông đánh giá như thế nào về vai trò của ngành bảo hiểm trong việc cung ứng dòng vốn trung và dài hạn, giúp GDP tăng trưởng bứt phá giai đoạn tới?

Ông Đặng Nguyễn Trường Tài: Hiện nhu cầu đầu tư trung dài hạn cho nền kinh tế ngày càng lớn, đặc biệt, khi cả nước hướng đến mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao trên 8% năm nay và cao hơn thập kỷ tới. Ngành bảo hiểm là một cấu phần quan trọng của thị trường vốn, đóng vai trò là nguồn cung ứng vốn trung và dài hạn ổn định cho nền kinh tế. Nguồn vốn này được hình thành từ dòng phí bảo hiểm ổn định, mang tính chất dài hạn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư có chu kỳ dài, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực.

Doanh nghiệp bảo hiểm chuyển dịch dòng vốn, đón sóng đầu tư xanh
Ông Đặng Nguyễn Trường Tài - Giám đốc Đầu tư Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ Dai-ichi Life Việt Nam (DFVN).

Với đặc thù sở hữu nguồn vốn dài hạn, các doanh nghiệp bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn vốn vào nền kinh tế thực thông qua ba hình thức đầu tư chủ yếu.

Thứ nhất, đầu tư trực tiếp. Đây là kênh quan trọng khi doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp tham gia vào các dự án hạ tầng trọng điểm, dự án năng lượng quy mô lớn bằng cách nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp hoặc trái phiếu dự án.

Hình thức này không chỉ đảm bảo lợi nhuận ổn định và dài hạn cho các doanh nghiệp bảo hiểm, mà còn góp phần cung cấp nguồn lực tài chính thiết yếu cho sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế trụ cột.

Thứ hai, đầu tư gián tiếp thông qua trái phiếu Chính phủ. Đây là một kênh đầu tư an toàn, có tính ổn định cao. Thông qua việc mua trái phiếu Chính phủ, các doanh nghiệp bảo hiểm gián tiếp tài trợ cho ngân sách nhà nước, hỗ trợ thực hiện các dự án đầu tư công và phát triển hạ tầng, từ đó lan tỏa tác động tích cực đến toàn bộ nền kinh tế.

Thứ ba, đầu tư gián tiếp thông qua hệ thống ngân hàng. Cụ thể, các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia mua trái phiếu cấp hai (Tier 2 bond) do các ngân hàng thương mại phát hành. Hình thức đầu tư này giúp tăng cường năng lực tài chính cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện để các ngân hàng mở rộng tín dụng, thúc đẩy dòng vốn lưu thông tới doanh nghiệp và các thành phần khác trong nền kinh tế.

PV: Trong toàn ngành, cơ cấu danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm đang có sự thay đổi rõ nét trong những năm gần đây, với xu hướng dịch chuyển từ các tài sản an toàn sang các kênh đầu tư có lợi suất cao hơn. Ông đánh giá như thế nào về xu hướng này và những yếu tố chính đang chi phối quyết định đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm?

Ông Đặng Nguyễn Trường Tài: Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp bảo hiểm có xu hướng giảm tỷ trọng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và tăng mạnh phân bổ vốn vào trái phiếu doanh nghiệp. Để lý giải xu hướng này một cách toàn diện, cần xuất phát từ sự khác biệt cốt lõi giữa hai loại tài sản này.

Trái phiếu Chính phủ vốn được xem là công cụ đầu tư có độ an toàn cao, gần như tuyệt đối, với rủi ro tín dụng tiệm cận bằng không. Với kỳ hạn dài, thậm chí lên tới 30 năm và tính thanh khoản cao, loại tài sản này đóng vai trò trụ cột trong việc đáp ứng yêu cầu cân đối kỳ hạn (duration matching) và đảm bảo khả năng chi trả của các doanh nghiệp bảo hiểm. Tuy nhiên, mức lợi suất của trái phiếu Chính phủ thường ở mức thấp, khiến khả năng sinh lời cho danh mục đầu tư bị giới hạn.

Ngược lại, trái phiếu doanh nghiệp đem lại mức lợi suất hấp dẫn hơn, qua đó trở thành công cụ hiệu quả để tối ưu lợi suất cho danh mục đầu tư. Chính vì vậy, việc phân bổ tỷ trọng giữa hai loại trái phiếu đòi hỏi sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý rủi ro kỳ hạn và mục tiêu tối đa hóa lợi suất sinh lời của danh mục.

Doanh nghiệp bảo hiểm chuyển dịch dòng vốn, đón sóng đầu tư xanh
Doanh nghiệp bảo hiểm chuyển dịch dòng vốn, đón sóng đầu tư xanh. Ảnh: T.L.

PV: Việc mở rộng đầu tư ra ngoài trái phiếu Chính phủ mang lại cơ hội lợi suất nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro, đâu là những nguyên tắc quản trị rủi ro được các doanh nghiệp chú trọng, thưa ông?

Mở rộng kênh đầu tư, bảo hiểm vẫn giữ “kỷ luật” quản trị rủi ro

Việc gia tăng đầu tư vào các tài sản ngoài trái phiếu Chính phủ chắc chắn đi kèm với những rủi ro tiềm ẩn về tín dụng và biến động thị trường. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bảo hiểm thường có chiến lược đầu tư thận trọng, dựa trên nguyên tắc đa dạng hóa danh mục và kiểm soát giới hạn tỷ trọng. Đồng thời, áp dụng hệ thống đánh giá tín nhiệm nội bộ theo tiêu chuẩn quốc tế các yếu tố định lượng về hệ số thanh khoản, sinh lời, các hệ số thanh toán…, cũng như các yếu tố định tính về quản trị doanh nghiệp, sản phẩm, thị trường.

Ông Đặng Nguyễn Trường Tài: Trong quá trình xây dựng danh mục đầu tư, quản trị rủi ro luôn được các doanh nghiệp bảo hiểm đặt lên hàng đầu. Do đó, xu hướng hiện nay là phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm ưu tiên lựa chọn đầu tư vào các trái phiếu doanh nghiệp có mức độ tín nhiệm cao, như trái phiếu được bảo lãnh thanh toán, có tài sản đảm bảo hoặc do các ngân hàng thương mại lớn, với tình hình tài chính lành mạnh.

Sau 18 năm hình thành và phát triển, tổng vốn đầu tư của Dai-ichi Life Việt Nam tăng 53 lần, đạt trên 54 nghìn tỷ đồng cuối năm 2024. Trong đó, trên 80% danh mục đầu tư là trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu Chính phủ, tuy nhiên, xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư cũng diễn ra rõ nét.

Chúng tôi quan sát thấy đang có xu hướng giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản an toàn như trái phiếu Chính phủ và tăng tỷ trọng vào các kênh có lợi suất cao hơn như trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu niêm yết. Trong khi đó, tỷ trọng tiền gửi duy trì ổn định, nhằm đảm bảo tính an toàn và linh hoạt về thanh khoản.

Đặc biệt, trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công và thúc đẩy chuyển dịch sang mô hình kinh tế xanh, các doanh nghiệp bảo hiểm được kỳ vọng sẽ đóng góp nhiều hơn vào các lĩnh vực như: hạ tầng giao thông, năng lượng tái tạo, đô thị thông minh và các tài sản gắn liền với tiêu chí tăng trưởng xanh, bao gồm cả trái phiếu dự án trong những lĩnh vực này.

PV: Xin cảm ơn ông!

Trái phiếu xanh được bảo hiểm "chọn mặt gửi vàng"

Theo ông Đặng Nguyễn Trường Tài - Giám đốc Đầu tư Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ Dai-ichi Life Việt Nam (DFVN), những khoản đầu tư vào trái phiếu xanh không chỉ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững mà còn đáp ứng các yêu cầu khắt khe của ngành bảo hiểm về kỳ hạn đầu tư dài, tiềm năng lợi suất hấp dẫn và khả năng quản trị rủi ro hiệu quả. Từ đó, giúp các nhà đầu tư bảo hiểm xây dựng các danh mục đầu tư linh hoạt và hiệu quả hơn, vừa đảm bảo an toàn vốn, vừa tối ưu hóa lợi nhuận, đồng thời đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Không chỉ dừng lại ở các kênh đầu tư truyền thống, một số doanh nghiệp bảo hiểm và quỹ đầu tư đang tích cực nghiên cứu, tham gia đầu tư trái phiếu xanh hoặc trực tiếp rót vốn vào các dự án điện mặt trời áp mái, điện gió ngoài khơi, giao thông công cộng chạy bằng điện hoặc các mô hình đô thị thông minh và tiết kiệm năng lượng. "Hòa vào xu thế đó, Công ty Quản lý Quỹ DFVN đang từng bước tích hợp các tiêu chí ESG vào chiến lược đầu tư, coi đây là nền tảng để đánh giá rủi ro và ra quyết định đầu tư trong giai đoạn tới" - ông Tài nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 05/04/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/04/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80