Kỷ niệm 17 năm Ngân hàng Phát triển Việt Nam 2006 - 2023:

Đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

(TBTCO) - Kể từ khi thành lập (2006) đến nay, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã cung ứng cho nền kinh tế một lượng vốn tín dụng đầu tư nhà nước rất lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cũng như nâng cao năng lực sản xuất của các ngành kinh tế. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây, quy mô tài trợ vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước hàng năm có xu hướng sụt giảm. Theo đó, cần đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế giai đoạn mới.
aa

Thực trạng, khả năng cung ứng vốn tín dụng đầu tư

Ở Việt Nam hiện nay, nguồn vốn tín dụng đầu tư (TDĐT) của Nhà nước đang được cung ứng qua một định chế tài chính đặc biệt của Chính phủ là Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Đối tượng sử dụng vốn TDĐT nhà nước là các dự án thuộc danh mục do Chính phủ quy định từng thời kỳ, trong đó chủ yếu tập trung vào lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (KT-XH), phát triển nông nghiệp, nông thôn và phát triển công nghiệp.

Ngoài ra, nguồn vốn TDĐT nhà nước còn tài trợ cho một số loại dự án đầu tư được thực hiện tại một số địa bàn thuộc diện ưu tiên theo chính sách của Nhà nước (địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn, đặc biệt khó khăn; vùng đồng bào dân tộc Khơ me sinh sống tập trung, các xã thuộc Chương trình 135 và các xã biên giới thuộc Chương trình 120, các xã vùng bãi ngang…).

Đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

Cho vay đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt diện Ô Môn.

Kể từ khi thành lập (năm 2006) đến nay, VDB đã cung ứng cho nền kinh tế một lượng vốn TDĐT của nhà nước rất lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng KT-XH cũng như nâng cao năng lực sản xuất của các ngành kinh tế. Tính chung trong cả giai đoạn 2006 - 2020, số vốn TDĐT của nhà nước đã tài trợ cho các dự án qua VDB chiếm khoảng 0,5% GDP và gần 1,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội cùng thời kỳ.

Tuy nhiên, trong một số năm gần đây, quy mô tài trợ vốn TDĐT của Nhà nước hàng năm có xu hướng sụt giảm. Nếu như năm 2015, số vốn TDĐT của Nhà nước giải ngân trong năm là 25.947 tỷ đồng và dư nợ TDĐT cuối năm đạt tới 142.823 tỷ đồng, thì đến năm 2020, con số tương ứng chỉ còn lại lần lượt là 872 tỷ đồng và 91.986 tỷ đồng. So với năm 2015, dư nợ TDĐT của Nhà nước năm 2020 tại VDB chỉ bằng 64,4%.

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng nói trên chủ yếu là do Chính phủ thu hẹp danh mục đối tượng sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước qua từng giai đoạn. Đồng thời, Chính phủ giảm dần các ưu đãi về điều kiện cho vay của nguồn vốn này, đặc biệt là lãi suất cho vay và bảo đảm tiền vay. Bên cạnh đó, xuất phát từ khó khăn trong việc cân đối ngân sách nhà nước, Chính phủ cũng không bố trí đủ nguồn lực tài chính cho VDB tương xứng với nhiệm vụ thực thi chính sách TDĐT của Nhà nước, từ việc không cấp đủ vốn điều lệ cho đến việc không thanh toán kịp thời các khoản cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý phát sinh hàng năm của VDB.

Ngoài ra, sự sụt giảm quy mô cung ứng vốn TDĐT của Nhà nước còn bắt nguồn từ một nguyên nhân rất quan trọng là sự hạn chế về thẩm quyền quyết định của VDB đối với các vấn đề phát sinh trong hoạt động TDĐT, từ việc xác định kế hoạch tăng trưởng tín dụng và kế hoạch huy động vốn hàng năm cho đến việc phán quyết các vấn đề liên quan đến các dự án vay vốn (như lãi suất cho vay, bảo đảm tiền vay, mức vốn cho vay, biện pháp xử lý rủi ro…).

Cụ thể, theo quy định về đầu tư công và quản lý nợ công, quy mô cho vay vốn TDĐT của Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thông qua kế hoạch tín dụng đầu tư phát triển được giao cho VDB hàng năm; quy mô phát hành trái phiếu để huy động vốn phục vụ hoạt động tín dụng này được quyết định thông qua hạn mức bảo lãnh của Chính phủ cấp cho VDB hàng năm.

Theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, lãi suất cho vay đối với các dự án được thực hiện theo lãi suất do Bộ Tài chính quyết định, việc cho vay vượt 70% tổng mức đầu tư của dự án phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Còn theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, các dự án có nhu cầu vay vốn quá 15 năm hoặc không đáp ứng đủ yêu cầu chung về bảo đảm tiền vay phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Cũng theo quy định tại hai nghị định nêu trên, các biện pháp xử lý rủi ro vốn TDĐT của Nhà nước mà VDB được quyết định chủ yếu là điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và gia hạn nợ, còn các biện pháp khác (khoanh nợ, xoá nợ gốc, xoá nợ lãi, bán nợ…) phải được quyết định bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc Thủ tướng Chính phủ…

Đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển

Kết quả phân tích cho thấy, yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn sắp tới đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong đó bao gồm cả vốn TDĐT của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động TDĐT của Nhà nước những năm gần đây cho thấy, để có thể mở rộng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế thì hoạt động TDĐT của Nhà nước cần phải được đổi mới trên nhiều phương diện, bao gồm cả chính sách về TDĐT của Nhà nước, cũng như quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan thực thi chính sách này, nhằm khắc phục những bất cập đã được chỉ ra ở trên.

Với yêu cầu đó, VDB và các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ thực hiện một số giải pháp.

Đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
Đổi mới hoạt động tín dụng đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.

Thứ nhất, mở rộng danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước theo hướng xem xét bổ sung một số loại hình dự án thuộc các lĩnh vực được ưu tiên phát triển theo Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021 - 2030, bên cạnh các dự án thuộc danh mục đối tượng vay vốn TDĐT của Nhà nước được quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP hiện nay.

Thứ hai, sửa đổi các quy định về điều kiện vay vốn TDĐT của Nhà nước theo hướng cho phép VDB được thực hiện chính sách phân biệt lãi suất cho vay và tỷ lệ bảo đảm tiền vay theo khách hàng vay vốn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín và có dự án hiệu quả được vay vốn với lãi suất thấp hơn và tỷ lệ bảo đảm tiền vay nhỏ hơn so với các doanh nghiệp khác. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay đối với mỗi khoản vay do VDB quyết định và chịu trách nhiệm theo mức độ rủi ro của khoản vay.

Thứ ba, ưu tiên để VDB được huy động các nguồn vốn có lãi suất thấp từ các quỹ tài chính nhà nước hoặc xem xét cấp bảo lãnh để VDB huy động vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế trong trường hợp VDB tìm được nguồn vốn giá rẻ từ các tổ chức này. Đồng thời, Chính phủ tạo điều kiện cho VDB phát hành trái phiếu kỳ hạn phù hợp với yêu cầu cho vay đối với các dự án đầu tư có thời hạn thu hồi vốn dài thuộc đối tượng sử dụng vốn TDĐT của Nhà nước.

Thứ tư, bố trí ngân sách nhà nước để cấp đủ vốn điều lệ của VDB theo lộ trình đã được phê duyệt tại Chiến lược phát triển VDB đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, nhằm sớm đạt mức vốn điều lệ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; thanh toán đủ số cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý còn thiếu cho VDB trong thời gian qua, đồng thời không để tình trạng nợ đọng tương tự xảy ra trong các năm tiếp theo.

Thứ năm, đổi mới mô hình hoạt động của VDB theo hướng nâng cao tính tự chủ, trên cơ sở tính đủ chi phí huy động vốn và các chi phí quản lý hoạt động vào lãi suất cho vay, cùng với việc cho phép VDB cung ứng thêm một số dịch vụ ngân hàng có thu phí để tạo nguồn thu nhằm giảm dần số cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý từ ngân sách nhà nước; đồng thời phân quyền mạnh hơn cho VDB trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng TDĐT của Nhà nước tương ứng với khả năng tự chủ về tài chính.

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách như trên, để đáp ứng yêu cầu cung ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế thì bản thân VDB, với tư cách là cơ quan thực thi chính sách TDĐT của Nhà nước, cũng cần thực hiện các biện pháp để nâng cao năng lực của mình về mọi mặt, từ chất lượng nhân lực cho đến nền tảng công nghệ cũng như trình độ quản lý; chỉ trong trường hợp đó, hoạt động cung ứng vốn TDĐT của Nhà nước qua VDB mới có thể được mở rộng quy mô mà không gây ra rủi ro, tổn thất cho VDB hay gánh nặng cho ngân sách nhà nước./.

Định hướng phát triển kinh tế và yêu cầu về vốn đầu tư cho giai đoạn mới

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2021) đã thông qua Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm, giai đoạn 2021 - 2030 với mục tiêu nước ta đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm trên của các nước có thu nhập trung bình cao, và đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Để đạt được mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định trong giai đoạn 2021 - 2030, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam dự kiến phải đạt bình quân khoảng 7%/năm, tổng vốn đầu tư xã hội bình quân đạt 33 - 35% GDP. Điều đó có nghĩa rằng việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các ngành kinh tế ở nước ta phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2021 - 2030 sẽ đòi hỏi một lượng vốn đầu tư phát triển rất lớn nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đặt ra.

Để đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư như trên, nền kinh tế sẽ phải huy động qua nhiều kênh khác nhau, như chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động qua thị trường chứng khoán…

TS. Nguyễn Cảnh Hiệp - Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Đọc thêm

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 142,400
Hà Nội - PNJ 139,400 142,400
Đà Nẵng - PNJ 139,400 142,400
Miền Tây - PNJ 139,400 142,400
Tây Nguyên - PNJ 139,400 142,400
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 142,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 14,240
Miếng SJC Nghệ An 13,940 14,240
Miếng SJC Thái Bình 13,940 14,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 14,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 14,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 14,290
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 14,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 14,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 1,419
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 1,409
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 139,505
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 105,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 95,972
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 86,108
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 82,303
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 58,911
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cập nhật: 29/09/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17679 17952 18531
CAD 17806 18080 18699
CHF 30592 30968 31610
CNY 0 3828 3924
EUR 28909 29127 30208
GBP 33627 34015 34953
HKD 0 3180 3383
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14388 14976
SGD 19779 20061 20631
THB 689 752 805
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,775 25,775 26,155
USD(1-2-5) 24,744 - -
USD(10-20) 24,744 - -
EUR 28,958 28,981 30,354
JPY 161.06 161.35 171.13
GBP 33,832 33,924 35,098
AUD 17,879 17,944 18,631
CAD 17,993 18,051 18,718
CHF 30,848 30,944 31,860
SGD 19,890 19,952 20,736
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,243 3,253 3,389
KRW 17.6 18.35 19.97
THB 736.97 746.07 798.37
NZD 14,375 14,508 14,947
SEK - 2,563 2,655
DKK - 3,884 4,022
NOK - 2,680 2,775
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.52 - 6,704.16
TWD 737.02 - 892.94
SAR - 6,798.21 7,161.14
KWD - 82,097 87,360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26150
AUD 17863 17963 18889
CAD 17986 18086 19102
CHF 30834 30864 32445
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29087 29117 30842
GBP 33925 33975 35745
HKD 0 3315 0
JPY 161.9 162.4 172.91
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19934 20064 20787
THB 0 717.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 13000000 13000000 14350000
Cập nhật: 29/09/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30