Khi ngân hàng số "tiến hóa"

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, ngân hàng số đến nay không còn là cuộc đua ai có ứng dụng, mà là cuộc đua về trải nghiệm, sự cá nhân hóa và khả năng đồng hành thực sự cùng khách hàng.
aa

Làn sóng số hóa thứ nhất

2 giờ chiều, khi đang ngồi trong phòng làm việc, anh Trần Ngọc Minh (32 tuổi, TP. Hồ Chí Minh) nhận được thông báo đóng học phí của con. Ngay lập tức, anh mở ứng dụng ngân hàng trên điện thoại, quét mã QR và hoàn tất giao dịch. Đến tối muộn, khi đang lướt mạng xã hội, anh Minh nảy ra ý định tiết kiệm cho chuyến du lịch cuối năm. Không một chút chần chừ, anh mở lại ứng dụng, tạo ngay một sổ tiết kiệm online với mục tiêu rõ ràng và đặt lịch gửi góp tự động hàng tháng. Tất cả diễn ra trên một màn hình duy nhất, không giấy tờ, không chờ đợi, không giới hạn bởi giờ hành chính.

Trải nghiệm của anh Minh đã trở thành một thói quen thường nhật của hàng triệu người Việt Nam. Theo báo cáo từ công ty tư vấn toàn cầu McKinsey, Việt Nam đang là quốc gia có tốc độ ứng dụng ngân hàng số nhanh nhất khu vực.

Các ngân hàng đang đẩy mạnh chuyển đổi số, đầu tư hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm vào công nghệ mới để tối ưu hóa quy trình, nâng cao trải nghiệm khách hàng. Hình ảnh những “ngân hàng không ngủ”, với dịch vụ sẵn sàng 24/7 đã hiện hữu rõ nét, đánh dấu một cuộc cách mạng thành công trong ngành tài chính.

Khi ngân hàng số ‘tiến hóa’
Các ngân hàng đang đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Frankie Wai, Giám đốc Giải pháp kinh doanh của Temenos - tập đoàn cung cấp phần mềm ngân hàng hàng đầu từ Thụy Sỹ nhận định rằng, quá trình chuyển đổi số trong ngành ngân hàng Việt Nam đã bắt đầu manh nha từ giai đoạn 2013 - 2014 và từ giai đoạn 2021 - 2022 trở lại đây, xu hướng này đã tăng tốc, song hành cùng sự phát triển chung của khu vực.

Theo ông Frankie, sự chuyển mình mạnh mẽ của ngân hàng số tại Việt Nam có sự hỗ trợ tích cực từ các cơ quan quản lý, đặc biệt là Quyết định số 810/QĐ-NHNN được ban hành năm 2021 phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Thực tế quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn so với những gì nhà quản lý kỳ vọng. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã hoàn tất giai đoạn đầu của chuyển đổi số, tập trung vào việc số hóa thông tin. Một số ngân hàng cho tỉ lệ số hóa tới 95%, trong khi hầu hết các ngân hàng đã triển khai ngân hàng số ở mức cơ bản, bao gồm số hóa quy trình và kênh giao tiếp với khách hàng.

Đến nay, nhiều ngân hàng đã bước sang giai đoạn thứ hai, số hóa quy trình từng phần ở các mức độ khác nhau, từ thấp đến cao.

Lựa chọn khác biệt

Hiểu một cách đơn giản, trong giai đoạn đầu của số hóa, các ngân hàng tập trung vào các “động mạch” - những hệ thống huyết mạch chính yếu, bao gồm công nghệ lõi, Internet banking và ứng dụng di động, hướng đến phục vụ số đông khách hàng.

Ở giai đoạn hai, khi hệ thống đã vững chắc, các nhà băng chuyển sang nâng cấp các “mao mạch” - hệ thống nhỏ hơn nhưng có vai trò quan trọng trong việc phân phối dịch vụ tới từng khu vực và bộ phận của nền kinh tế. Giai đoạn này đòi hỏi sự chuyên biệt và cá nhân hóa cao, phản ánh chiến lược riêng của từng ngân hàng.

Nếu nhìn vào thị trường hiện nay, có thể thấy các ngân hàng đang theo đuổi những lựa chọn khác nhau. Có nơi mở rộng giới hạn phục vụ 24/7 vượt ngoài chi nhánh truyền thống; có nơi tập trung xây dựng hệ sinh thái, tích hợp đa dịch vụ trong một ứng dụng duy nhất; và cũng có nơi theo đuổi mô hình ngân hàng “thuần số”, hướng tới trải nghiệm hoàn toàn trên nền tảng trực tuyến.

Nhìn nhận về chiến lược phát triển ngân hàng số, ông Đỗ Quang Vinh, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc SHB cho rằng, ngân hàng số đến nay đã không còn là cuộc đua ai có ứng dụng, mà là cuộc đua về trải nghiệm, sự cá nhân hóa và khả năng đồng hành thực sự cùng khách hàng.

“Trong bối cảnh kỷ nguyên khoa học công nghệ 4.0 len lỏi vào từng ngõ ngách trong đời sống thường nhật, thói quen của người dùng cũng đổi thay theo. Khách hàng cần một nền tảng linh hoạt, thông minh, tích hợp nhiều dịch vụ “may đo” thiết thực hơn là chỉ giao dịch tài chính đơn thuần, đại trà”, ông Vinh nhìn nhận.

Khi ngân hàng số ‘tiến hóa’
Khách hàng cần một nền tảng linh hoạt, thông minh, tích hợp nhiều dịch vụ “may đo” thiết thực.

SHB là một trong những nhà băng có tỷ lệ số hóa rất cao khi ứng dụng các công nghệ hiện đại như Big Data, AI, Machine Learning vào quản trị và vận hành. Đến nay, hơn 95% nghiệp vụ của SHB đã được số hóa, hơn 98% giao dịch của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp được thực hiện trên nền tảng số. Khi quá trình số hóa ban đầu đã đạt đỉnh, lãnh đạo nhà băng hiểu rằng cần phải có hướng phát triển mới.

Gần đây, SHB đã cho ra mắt ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới - SHB SAHA, được ông Vinh đánh giá là một bước cải tiến vượt bậc so với ứng dụng SHB Mobile, đồng thời phản ánh sự thay đổi trong tư duy phát triển ngân hàng số của SHB.

Nếu SHB Mobile trước đây chỉ tập trung vào các tính năng phục vụ nhu cầu cơ bản như chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, truy vấn thông tin, gửi tiết kiệm..., thì SHB SAHA không đơn thuần giúp người dùng dễ dàng chuyển - nhận tiền, gửi tiết kiệm, chi trả tiện ích, mà còn hướng tới trải nghiệm ngân hàng số thông minh, toàn diện với một loạt dịch vụ số hóa hoàn chỉnh, ưu đãi hấp dẫn, đồng thời đáp ứng các nhu cầu tài chính dài hạn hơn như đầu tư sinh lời, bảo hiểm. Đặc biệt, người dùng còn được bảo vệ tối đa nhờ hệ thống câu hỏi bảo mật, mang đến sự an tâm trong mọi giao dịch.

Khi ngân hàng số ‘tiến hóa’
SHB SAHA là bước chuyển chiến lược mang tính toàn diện, hiện thực hóa tham vọng chuyển đổi số của SHB

“SHB Mobile là bước đi cần thiết cho giai đoạn đầu của ngân hàng số khi nhu cầu và thị trường còn tương đối sơ khai, trong khi SHB SAHA là bước chuyển chiến lược mang tính toàn diện, hiện thực hóa tham vọng chuyển đổi số của SHB”, ông Vinh chia sẻ.

Tất nhiên, thách thức cũng không hề nhỏ. Theo đại diện của SHB, các nhà băng có thể nhanh chóng sở hữu những công nghệ tiên tiến cao trên thế giới, nhưng để thay đổi thói quen và tư duy của khách hàng, nhất là nhóm khách hàng truyền thống, vẫn là thách thức lớn nhất.

Các ứng dụng tài chính vốn khô khan, nay cũng phải tạo ra được các trải nghiệm hấp dẫn, đủ đơn giản nhưng vẫn đảm bảo tiện lợi, an toàn để người dùng tiếp nhận nó như một phần của cuộc sống. Mặt khác, hệ thống hạ tầng của ứng dụng cũng cần được đầu tư mạnh mẽ hơn mới có thể sẵn sàng mở rộng, đáp ứng tốc độ tăng trưởng người dùng và các dịch vụ tích hợp sau này.

“Chúng tôi tin rằng, công nghệ không chỉ giúp ngân hàng vận hành tốt hơn, mà còn phục vụ khách hàng một cách linh hoạt và gắn kết”, đại diện SHB nhận định./.

Nhung Hồng

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,390 ▲100K 13,990
Trang sức 99.99 13,400 ▲100K 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1238K 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1238K 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cập nhật: 03/08/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17879 18153 18728
CAD 18184 18460 19076
CHF 31871 32252 32891
CNY 0 3850 3942
EUR 29662 29884 30959
GBP 34553 34945 35876
HKD 0 3220 3422
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15110 15695
SGD 19951 20234 20805
THB 704 767 820
USD (1,2) 26011 0 0
USD (5,10,20) 26052 0 0
USD (50,100) 26081 26090 26455
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,707 29,731 31,134
JPY 163.16 163.45 173.29
GBP 34,747 34,841 36,046
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,375 18,434 19,112
CHF 32,090 32,190 33,129
SGD 20,074 20,136 20,933
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.93 17.66 19.21
THB 752.08 761.37 814.6
NZD 15,112 15,252 15,707
SEK - 2,712 2,807
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.73 - 6,770.89
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,881.18 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26075 26075 26475
AUD 18060 18160 19085
CAD 18366 18466 19480
CHF 32113 32143 33721
CNY 3830.5 3855.5 3990.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29836 29866 31589
GBP 34857 34907 36660
HKD 0 3355 0
JPY 163.92 164.42 174.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15220 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20108 20238 20965
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80