UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá "kìm chân" chính sách tiền tệ

Ánh Tuyết
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2025 lên 7,5%, cao hơn dự báo trước đó mà ngân hàng này đưa ra. Tuy vậy, áp lực tỷ giá, đà suy yếu của VND được cho là sẽ hạn chế khả năng Ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ, ngay cả khi Fed hạ lãi suất.
aa
Ngân hàng UOB điều chỉnh triển vọng xuất khẩu sang Mỹ, VND có thể phục hồi từ quý IV "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa Nâng mục tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước để đạt tăng trưởng GDP 8,3 - 8,5%

Chiều ngày 17/9, Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) công bố báo cáo đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam và dự báo về tiền tệ, hàng hóa.

Nâng dự báo tăng trưởng cả năm

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, GDP thực tế của Việt Nam trong quý II/2025 tăng mạnh 7,96% so với cùng kỳ. Con số này vượt qua dự báo 6,85% của Bloomberg và 6,1% của nhóm phân tích thuộc Ngân hàng UOB. Tính chung 6 tháng đầu năm, tăng trưởng của Việt Nam đạt 7,52% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong nửa đầu năm kể từ năm 2011.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá
Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam. Ảnh minh hoạ.

Triển vọng tăng trưởng GDP tăng thêm 0,6%

"Sau mức tăng trưởng ấn tượng 7,5% trong nửa đầu năm 2025 và kỳ vọng được hỗ trợ từ đầu tư công gia tăng, chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP cả năm lên 7,5% (từ mức dự báo trước đó là 6,9%; so với 7,09% trong năm 2024), với tăng trưởng quý III/2025 dự kiến đạt 7,6% so với cùng kỳ và quý IV/2025 đạt 7,2%" - ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu UOB đánh giá.

Theo đánh giá của ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB, sự bất ổn về thuế quan đã giảm bớt trong nửa cuối năm 2025 sau khi Mỹ hoàn tất việc thiết lập mức thuế đối ứng riêng cho từng quốc gia trước thời hạn 1/8.

Mức thuế đối ứng áp dụng cho Việt Nam là 20%, dù thấp hơn nhiều so với mức ban đầu (46%), song các mối lo ngại vẫn tồn tại. Mức thuế 40% đối với hàng hóa trung chuyển vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể và các mức thuế theo ngành, đặc biệt là đối với chất bán dẫn và đồ nội thất vẫn đang chờ công bố.

Đây là những ngành có vai trò trọng yếu: nhóm hàng điện tử (HS 85) chiếm 31% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam trong năm 2024; tiếp theo là máy móc, thiết bị (HS 84; 21%) và đồ nội thất (HS 94; 10%). Việc áp thuế lên các nhóm hàng này có thể ảnh hưởng đến hơn 40% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Điều này khiến các doanh nghiệp phải đánh giá lại chiến lược chuỗi cung ứng.

"Bất chấp áp lực từ thuế quan, xuất khẩu cả năm vẫn có thể tăng khoảng 10% (so với mức tăng 14% trong năm 2024), giả định tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức vừa phải từ 1 - 5% so với cùng kỳ trong phần còn lại của năm 2025" - UOB đánh giá.

Đối mặt với rủi ro và bất ổn từ thuế quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn thể hiện khả năng chống chịu và tính năng động. Các chỉ số khác cũng cho thấy khả năng chống chịu của nền kinh tế, điển hình như chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) và dòng vốn FDI, với khả năng dòng vốn FDI cả năm có thể vượt mốc 20 tỷ USD.

Trước những thách thức từ bên ngoài, Việt Nam công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng trị giá khoảng 48 tỷ USD vào giữa tháng 8, bao gồm 250 dự án. Nhà nước sẽ tài trợ cho 129 dự án, tập trung vào phát triển đô thị và giao thông với tổng vốn khoảng 18 tỷ USD; 121 dự án còn lại, trị giá khoảng 30,5 tỷ USD, sẽ được huy động từ các nguồn khác, bao gồm cả doanh nghiệp nước ngoài.

Đồng USD chịu áp lực, song khó tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ

Với triển vọng tăng trưởng khả quan trong nửa cuối năm 2025 và áp lực trên tỷ giá của VND, theo chuyên gia UOB, khả năng Ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ là hạn chế.

Theo đó, dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%. Trong trường hợp điều kiện kinh doanh và thị trường lao động suy giảm mạnh, Ngân hàng Nhà nước có thể cân nhắc hạ lãi suất tái cấp vốn về mức thấp kỷ lục trong đại dịch là 4%, tuy nhiên đây không phải là kịch bản cơ sở của UOB.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá
Nguồn: UOB.

Cũng theo nhóm phân tích, ngược chiều xu hướng khu vực, VND đã suy yếu xuống mức 26.436 VND/USD trong tháng 8, tương ứng mức giảm 3,4% tính từ đầu năm và đánh dấu năm thứ 4 liên tiếp mất giá.

Dự báo tỷ giá hạ nhiệt trong quý IV/2025

"Việc chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên 7,5% trong năm 2025 (so với 7,09% năm 2024) có thể tạo ra một phần lực đỡ cho VND. Tuy nhiên, tổng thể, chúng tôi dự báo, tỷ giá USD/VND sẽ lần lượt ở mức: 26.300 đồng vào quý IV/2025, 26.200 đồng vào quý I/2026, 26.100 đồng vào quý II/2026, 26.000 đồng vào quý III/2026" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Bộ phận nghiên cứu Ngân hàng UOB cũng dự báo, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ thực hiện 3 đợt cắt giảm lãi suất, mỗi lần 25 điểm cơ bản, tại các kỳ họp còn lại trong năm: tháng 9, tháng 10 và tháng 12.

Trong bối cảnh Fed chuyển sang giai đoạn nới lỏng chính sách mới, ngân hàng trung ương này sẽ có xu hướng ôn hòa hơn so với các ngân hàng trung ương thuộc nhóm G-10, vốn đang tiến gần đến điểm kết thúc của chu kỳ nới lỏng.

"Sự phân hóa chính sách này sẽ dẫn đến thu hẹp chênh lệch lãi suất giữa USD và các đồng tiền chủ chốt, qua đó, củng cố xu hướng suy yếu của đồng bạc xanh. Theo đó, chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo chỉ số DXY xuống mức 96,3 điểm vào quý IV/2025 và 93,9 điểm vào quý III/2026. Đồng thời, chúng tôi kỳ vọng, các đồng tiền chủ chốt như EUR, GBP, AUD và JPY sẽ ghi nhận xu hướng tăng giá trong các quý tương ứng" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Với khu vực châu Á, các đồng tiền khu vực có thể phục hồi nhẹ khi rủi ro từ bất ổn thương mại giảm dần trong quý III/2025. Dù vậy, nhìn về phía trước, VND có thể sẽ không tận dụng được hết lợi thế từ xu hướng suy yếu trở lại của đồng USD - vốn được kỳ vọng sẽ diễn ra khi Fed bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất.

Chia sẻ gần đây, PGS.TS Vũ Sỹ Cường - Khoa Tài chính công (Học viện Tài chính) cũng cho rằng, với mặt bằng lãi suất như hiện nay và cấu trúc của thị trường vốn, rất khó để tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ.

Hiện chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước và động thái bơm tiền liên tiếp đã làm gia tăng áp lực tỷ giá. Đồng nội tệ yếu sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu với các doanh nghiệp sản xuất và trong tương lai có thể sẽ triệt tiêu lợi thế giá hàng hoá xuất khẩu rẻ hiện tại do áp lực chi phí. Lạm phát cũng có nguy cơ bị đẩy lên cao dưới tác động của chi phí đẩy.

Vì vậy, ông Cường cho rằng, thời gian tới, việc phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ cho giai đoạn cuối năm 2025 và những năm tiếp theo cần chú ý nhiều vấn đề. Trong đó, cần điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, tăng khả năng tiếp cận tín dụng gắn với kiểm soát rủi ro và xử lý nợ xấu, ổn định kinh tế vĩ mô. "Tăng trưởng kinh tế cao là quan trọng, nhưng sự ổn định của nền kinh tế về dài hạn còn có ý nghĩa lớn hơn với quốc gia" - vị chuyên gia này nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80