UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá "kìm chân" chính sách tiền tệ

Ánh Tuyết
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2025 lên 7,5%, cao hơn dự báo trước đó mà ngân hàng này đưa ra. Tuy vậy, áp lực tỷ giá, đà suy yếu của VND được cho là sẽ hạn chế khả năng Ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ, ngay cả khi Fed hạ lãi suất.
aa
Ngân hàng UOB điều chỉnh triển vọng xuất khẩu sang Mỹ, VND có thể phục hồi từ quý IV "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa Nâng mục tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước để đạt tăng trưởng GDP 8,3 - 8,5%

Chiều ngày 17/9, Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) công bố báo cáo đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam và dự báo về tiền tệ, hàng hóa.

Nâng dự báo tăng trưởng cả năm

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, GDP thực tế của Việt Nam trong quý II/2025 tăng mạnh 7,96% so với cùng kỳ. Con số này vượt qua dự báo 6,85% của Bloomberg và 6,1% của nhóm phân tích thuộc Ngân hàng UOB. Tính chung 6 tháng đầu năm, tăng trưởng của Việt Nam đạt 7,52% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong nửa đầu năm kể từ năm 2011.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá
Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam. Ảnh minh hoạ.

Triển vọng tăng trưởng GDP tăng thêm 0,6%

"Sau mức tăng trưởng ấn tượng 7,5% trong nửa đầu năm 2025 và kỳ vọng được hỗ trợ từ đầu tư công gia tăng, chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP cả năm lên 7,5% (từ mức dự báo trước đó là 6,9%; so với 7,09% trong năm 2024), với tăng trưởng quý III/2025 dự kiến đạt 7,6% so với cùng kỳ và quý IV/2025 đạt 7,2%" - ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu UOB đánh giá.

Theo đánh giá của ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB, sự bất ổn về thuế quan đã giảm bớt trong nửa cuối năm 2025 sau khi Mỹ hoàn tất việc thiết lập mức thuế đối ứng riêng cho từng quốc gia trước thời hạn 1/8.

Mức thuế đối ứng áp dụng cho Việt Nam là 20%, dù thấp hơn nhiều so với mức ban đầu (46%), song các mối lo ngại vẫn tồn tại. Mức thuế 40% đối với hàng hóa trung chuyển vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể và các mức thuế theo ngành, đặc biệt là đối với chất bán dẫn và đồ nội thất vẫn đang chờ công bố.

Đây là những ngành có vai trò trọng yếu: nhóm hàng điện tử (HS 85) chiếm 31% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam trong năm 2024; tiếp theo là máy móc, thiết bị (HS 84; 21%) và đồ nội thất (HS 94; 10%). Việc áp thuế lên các nhóm hàng này có thể ảnh hưởng đến hơn 40% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Điều này khiến các doanh nghiệp phải đánh giá lại chiến lược chuỗi cung ứng.

"Bất chấp áp lực từ thuế quan, xuất khẩu cả năm vẫn có thể tăng khoảng 10% (so với mức tăng 14% trong năm 2024), giả định tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức vừa phải từ 1 - 5% so với cùng kỳ trong phần còn lại của năm 2025" - UOB đánh giá.

Đối mặt với rủi ro và bất ổn từ thuế quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn thể hiện khả năng chống chịu và tính năng động. Các chỉ số khác cũng cho thấy khả năng chống chịu của nền kinh tế, điển hình như chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) và dòng vốn FDI, với khả năng dòng vốn FDI cả năm có thể vượt mốc 20 tỷ USD.

Trước những thách thức từ bên ngoài, Việt Nam công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng trị giá khoảng 48 tỷ USD vào giữa tháng 8, bao gồm 250 dự án. Nhà nước sẽ tài trợ cho 129 dự án, tập trung vào phát triển đô thị và giao thông với tổng vốn khoảng 18 tỷ USD; 121 dự án còn lại, trị giá khoảng 30,5 tỷ USD, sẽ được huy động từ các nguồn khác, bao gồm cả doanh nghiệp nước ngoài.

Đồng USD chịu áp lực, song khó tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ

Với triển vọng tăng trưởng khả quan trong nửa cuối năm 2025 và áp lực trên tỷ giá của VND, theo chuyên gia UOB, khả năng Ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ là hạn chế.

Theo đó, dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%. Trong trường hợp điều kiện kinh doanh và thị trường lao động suy giảm mạnh, Ngân hàng Nhà nước có thể cân nhắc hạ lãi suất tái cấp vốn về mức thấp kỷ lục trong đại dịch là 4%, tuy nhiên đây không phải là kịch bản cơ sở của UOB.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá
Nguồn: UOB.

Cũng theo nhóm phân tích, ngược chiều xu hướng khu vực, VND đã suy yếu xuống mức 26.436 VND/USD trong tháng 8, tương ứng mức giảm 3,4% tính từ đầu năm và đánh dấu năm thứ 4 liên tiếp mất giá.

Dự báo tỷ giá hạ nhiệt trong quý IV/2025

"Việc chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên 7,5% trong năm 2025 (so với 7,09% năm 2024) có thể tạo ra một phần lực đỡ cho VND. Tuy nhiên, tổng thể, chúng tôi dự báo, tỷ giá USD/VND sẽ lần lượt ở mức: 26.300 đồng vào quý IV/2025, 26.200 đồng vào quý I/2026, 26.100 đồng vào quý II/2026, 26.000 đồng vào quý III/2026" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Bộ phận nghiên cứu Ngân hàng UOB cũng dự báo, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ thực hiện 3 đợt cắt giảm lãi suất, mỗi lần 25 điểm cơ bản, tại các kỳ họp còn lại trong năm: tháng 9, tháng 10 và tháng 12.

Trong bối cảnh Fed chuyển sang giai đoạn nới lỏng chính sách mới, ngân hàng trung ương này sẽ có xu hướng ôn hòa hơn so với các ngân hàng trung ương thuộc nhóm G-10, vốn đang tiến gần đến điểm kết thúc của chu kỳ nới lỏng.

"Sự phân hóa chính sách này sẽ dẫn đến thu hẹp chênh lệch lãi suất giữa USD và các đồng tiền chủ chốt, qua đó, củng cố xu hướng suy yếu của đồng bạc xanh. Theo đó, chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo chỉ số DXY xuống mức 96,3 điểm vào quý IV/2025 và 93,9 điểm vào quý III/2026. Đồng thời, chúng tôi kỳ vọng, các đồng tiền chủ chốt như EUR, GBP, AUD và JPY sẽ ghi nhận xu hướng tăng giá trong các quý tương ứng" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Với khu vực châu Á, các đồng tiền khu vực có thể phục hồi nhẹ khi rủi ro từ bất ổn thương mại giảm dần trong quý III/2025. Dù vậy, nhìn về phía trước, VND có thể sẽ không tận dụng được hết lợi thế từ xu hướng suy yếu trở lại của đồng USD - vốn được kỳ vọng sẽ diễn ra khi Fed bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất.

Chia sẻ gần đây, PGS.TS Vũ Sỹ Cường - Khoa Tài chính công (Học viện Tài chính) cũng cho rằng, với mặt bằng lãi suất như hiện nay và cấu trúc của thị trường vốn, rất khó để tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ.

Hiện chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước và động thái bơm tiền liên tiếp đã làm gia tăng áp lực tỷ giá. Đồng nội tệ yếu sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu với các doanh nghiệp sản xuất và trong tương lai có thể sẽ triệt tiêu lợi thế giá hàng hoá xuất khẩu rẻ hiện tại do áp lực chi phí. Lạm phát cũng có nguy cơ bị đẩy lên cao dưới tác động của chi phí đẩy.

Vì vậy, ông Cường cho rằng, thời gian tới, việc phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ cho giai đoạn cuối năm 2025 và những năm tiếp theo cần chú ý nhiều vấn đề. Trong đó, cần điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, tăng khả năng tiếp cận tín dụng gắn với kiểm soát rủi ro và xử lý nợ xấu, ổn định kinh tế vĩ mô. "Tăng trưởng kinh tế cao là quan trọng, nhưng sự ổn định của nền kinh tế về dài hạn còn có ý nghĩa lớn hơn với quốc gia" - vị chuyên gia này nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Sáng ngày 18/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.067 VND, giảm 1 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,15%, hiện ở mức 99,57 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
NL 99.90 15,720 ▲250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,750 ▲250K
Trang sức 99.9 16,490 ▲280K 17,190 ▲280K
Trang sức 99.99 16,500 ▲280K 17,200 ▲280K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,717 ▲45K 17,472 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,717 ▲45K 17,473 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cập nhật: 25/03/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80