UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá "kìm chân" chính sách tiền tệ

Ánh Tuyết
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2025 lên 7,5%, cao hơn dự báo trước đó mà ngân hàng này đưa ra. Tuy vậy, áp lực tỷ giá, đà suy yếu của VND được cho là sẽ hạn chế khả năng Ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ, ngay cả khi Fed hạ lãi suất.
aa
Ngân hàng UOB điều chỉnh triển vọng xuất khẩu sang Mỹ, VND có thể phục hồi từ quý IV "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa Nâng mục tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước để đạt tăng trưởng GDP 8,3 - 8,5%

Chiều ngày 17/9, Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) công bố báo cáo đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam và dự báo về tiền tệ, hàng hóa.

Nâng dự báo tăng trưởng cả năm

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, GDP thực tế của Việt Nam trong quý II/2025 tăng mạnh 7,96% so với cùng kỳ. Con số này vượt qua dự báo 6,85% của Bloomberg và 6,1% của nhóm phân tích thuộc Ngân hàng UOB. Tính chung 6 tháng đầu năm, tăng trưởng của Việt Nam đạt 7,52% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong nửa đầu năm kể từ năm 2011.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá
Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam. Ảnh minh hoạ.

Triển vọng tăng trưởng GDP tăng thêm 0,6%

"Sau mức tăng trưởng ấn tượng 7,5% trong nửa đầu năm 2025 và kỳ vọng được hỗ trợ từ đầu tư công gia tăng, chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP cả năm lên 7,5% (từ mức dự báo trước đó là 6,9%; so với 7,09% trong năm 2024), với tăng trưởng quý III/2025 dự kiến đạt 7,6% so với cùng kỳ và quý IV/2025 đạt 7,2%" - ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu UOB đánh giá.

Theo đánh giá của ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB, sự bất ổn về thuế quan đã giảm bớt trong nửa cuối năm 2025 sau khi Mỹ hoàn tất việc thiết lập mức thuế đối ứng riêng cho từng quốc gia trước thời hạn 1/8.

Mức thuế đối ứng áp dụng cho Việt Nam là 20%, dù thấp hơn nhiều so với mức ban đầu (46%), song các mối lo ngại vẫn tồn tại. Mức thuế 40% đối với hàng hóa trung chuyển vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể và các mức thuế theo ngành, đặc biệt là đối với chất bán dẫn và đồ nội thất vẫn đang chờ công bố.

Đây là những ngành có vai trò trọng yếu: nhóm hàng điện tử (HS 85) chiếm 31% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam trong năm 2024; tiếp theo là máy móc, thiết bị (HS 84; 21%) và đồ nội thất (HS 94; 10%). Việc áp thuế lên các nhóm hàng này có thể ảnh hưởng đến hơn 40% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Điều này khiến các doanh nghiệp phải đánh giá lại chiến lược chuỗi cung ứng.

"Bất chấp áp lực từ thuế quan, xuất khẩu cả năm vẫn có thể tăng khoảng 10% (so với mức tăng 14% trong năm 2024), giả định tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức vừa phải từ 1 - 5% so với cùng kỳ trong phần còn lại của năm 2025" - UOB đánh giá.

Đối mặt với rủi ro và bất ổn từ thuế quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn thể hiện khả năng chống chịu và tính năng động. Các chỉ số khác cũng cho thấy khả năng chống chịu của nền kinh tế, điển hình như chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) và dòng vốn FDI, với khả năng dòng vốn FDI cả năm có thể vượt mốc 20 tỷ USD.

Trước những thách thức từ bên ngoài, Việt Nam công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng trị giá khoảng 48 tỷ USD vào giữa tháng 8, bao gồm 250 dự án. Nhà nước sẽ tài trợ cho 129 dự án, tập trung vào phát triển đô thị và giao thông với tổng vốn khoảng 18 tỷ USD; 121 dự án còn lại, trị giá khoảng 30,5 tỷ USD, sẽ được huy động từ các nguồn khác, bao gồm cả doanh nghiệp nước ngoài.

Đồng USD chịu áp lực, song khó tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ

Với triển vọng tăng trưởng khả quan trong nửa cuối năm 2025 và áp lực trên tỷ giá của VND, theo chuyên gia UOB, khả năng Ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ là hạn chế.

Theo đó, dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%. Trong trường hợp điều kiện kinh doanh và thị trường lao động suy giảm mạnh, Ngân hàng Nhà nước có thể cân nhắc hạ lãi suất tái cấp vốn về mức thấp kỷ lục trong đại dịch là 4%, tuy nhiên đây không phải là kịch bản cơ sở của UOB.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, song áp lực tỷ giá
Nguồn: UOB.

Cũng theo nhóm phân tích, ngược chiều xu hướng khu vực, VND đã suy yếu xuống mức 26.436 VND/USD trong tháng 8, tương ứng mức giảm 3,4% tính từ đầu năm và đánh dấu năm thứ 4 liên tiếp mất giá.

Dự báo tỷ giá hạ nhiệt trong quý IV/2025

"Việc chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên 7,5% trong năm 2025 (so với 7,09% năm 2024) có thể tạo ra một phần lực đỡ cho VND. Tuy nhiên, tổng thể, chúng tôi dự báo, tỷ giá USD/VND sẽ lần lượt ở mức: 26.300 đồng vào quý IV/2025, 26.200 đồng vào quý I/2026, 26.100 đồng vào quý II/2026, 26.000 đồng vào quý III/2026" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Bộ phận nghiên cứu Ngân hàng UOB cũng dự báo, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ thực hiện 3 đợt cắt giảm lãi suất, mỗi lần 25 điểm cơ bản, tại các kỳ họp còn lại trong năm: tháng 9, tháng 10 và tháng 12.

Trong bối cảnh Fed chuyển sang giai đoạn nới lỏng chính sách mới, ngân hàng trung ương này sẽ có xu hướng ôn hòa hơn so với các ngân hàng trung ương thuộc nhóm G-10, vốn đang tiến gần đến điểm kết thúc của chu kỳ nới lỏng.

"Sự phân hóa chính sách này sẽ dẫn đến thu hẹp chênh lệch lãi suất giữa USD và các đồng tiền chủ chốt, qua đó, củng cố xu hướng suy yếu của đồng bạc xanh. Theo đó, chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo chỉ số DXY xuống mức 96,3 điểm vào quý IV/2025 và 93,9 điểm vào quý III/2026. Đồng thời, chúng tôi kỳ vọng, các đồng tiền chủ chốt như EUR, GBP, AUD và JPY sẽ ghi nhận xu hướng tăng giá trong các quý tương ứng" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Với khu vực châu Á, các đồng tiền khu vực có thể phục hồi nhẹ khi rủi ro từ bất ổn thương mại giảm dần trong quý III/2025. Dù vậy, nhìn về phía trước, VND có thể sẽ không tận dụng được hết lợi thế từ xu hướng suy yếu trở lại của đồng USD - vốn được kỳ vọng sẽ diễn ra khi Fed bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất.

Chia sẻ gần đây, PGS.TS Vũ Sỹ Cường - Khoa Tài chính công (Học viện Tài chính) cũng cho rằng, với mặt bằng lãi suất như hiện nay và cấu trúc của thị trường vốn, rất khó để tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ.

Hiện chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước và động thái bơm tiền liên tiếp đã làm gia tăng áp lực tỷ giá. Đồng nội tệ yếu sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu với các doanh nghiệp sản xuất và trong tương lai có thể sẽ triệt tiêu lợi thế giá hàng hoá xuất khẩu rẻ hiện tại do áp lực chi phí. Lạm phát cũng có nguy cơ bị đẩy lên cao dưới tác động của chi phí đẩy.

Vì vậy, ông Cường cho rằng, thời gian tới, việc phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ cho giai đoạn cuối năm 2025 và những năm tiếp theo cần chú ý nhiều vấn đề. Trong đó, cần điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, tăng khả năng tiếp cận tín dụng gắn với kiểm soát rủi ro và xử lý nợ xấu, ổn định kinh tế vĩ mô. "Tăng trưởng kinh tế cao là quan trọng, nhưng sự ổn định của nền kinh tế về dài hạn còn có ý nghĩa lớn hơn với quốc gia" - vị chuyên gia này nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

(TBTCO) - Sáng 12/8, tỷ giá trung tâm tăng 23 đồng lên 25.539 đồng, trong khi tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng vẫn chưa dứt xu hướng điều chỉnh giảm. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,02% lên 99,84 điểm, giá dầu tăng khơi lại lo ngại lạm phát, đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên và gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt, trái chiều với tín hiệu từ báo cáo việc làm yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

(TBTCO) - Sáng 11/8, tỷ giá trung tâm tăng 25 đồng, lên 25.516 đồng/USD, lần đầu vượt 25.500 đồng, kéo tỷ giá trần lên sát 26.792 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng nhẹ lên 99,8 điểm, trong khi đồng Yên tiếp tục chịu áp lực giảm giá dù Nhật Bản can thiệp kỷ lục, khi chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật vẫn là yếu tố chi phối.
Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

(TBTCO) - Sáng 10/8, tỷ giá trung tâm tăng 28 đồng, lên 25.491 đồng/USD, song giá bán USD tại ngân hàng vẫn thấp hơn trần gần 400 đồng. Trên thị trường tự do, USD giảm mạnh 170 đồng, xuống 25.800 - 25.830 VND/USD. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,13% lên 99,66 điểm. Tuần này, CPI tháng 7 của Mỹ sẽ là chất xúc tác quan trọng đối với đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80