Dự báo lạm phát cả năm 2024 khoảng 4 - 4,5% do giá năng lượng và thực phẩm tăng

Thu Hương
(TBTCO) - Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng, dự báo lạm phát năm 2024 có thể chạm ngưỡng 4 - 4,5%, vượt mức của năm 2023. Nguyên nhân chính được cho là áp lực từ đà tăng mạnh của giá năng lượng và thực phẩm trên thị trường toàn cầu.
aa
Lạm phát xuống nhanh, ECB hạ lãi suất lần thứ 3 kể từ đầu năm 2024 Kỳ vọng lạm phát Mỹ dần hạ nhiệt, tạo động lực thúc đẩy thị trường chứng khoán trong nước Lạm phát tại Anh có khả năng tăng vượt mục tiêu 2% của BoE

Kiểm soát lạm phát, duy trì tăng trưởng

Trong báo cáo phân tích về tình hình kinh tế trong nước, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng đã đưa ra những đánh giá sâu sắc về các chỉ số kinh tế vĩ mô trong 9 tháng đầu năm 2024.

Theo nhóm nghiên cứu, tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) đạt 1.448,2 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ, nhờ vào sự phục hồi của kinh tế trong nước và tăng trưởng xuất nhập khẩu.

Tuy nhiên, chi đầu tư phát triển giảm 11,8%, phần lớn do tốc độ giải ngân đầu tư công chậm trong nửa đầu năm. Dù vậy, NSNN vẫn duy trì thặng dư 191.900 tỷ đồng, phản ánh hiệu quả quản lý tài chính công.

Dự báo lạm phát cả năm 2024 khoảng 4 - 4,5% do giá năng lượng và thực phẩm tăng
Dự báo tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam năm 2024 (% yoy). Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp.

Về tình hình lạm phát, nhóm nghiên cứu dự báo rằng, lạm phát trong năm 2024 dao động ở mức 4 - 4,5%, cao hơn so với năm 2023. Nguyên nhân chính là sự tăng giá năng lượng và thực phẩm toàn cầu, kết hợp với tác động tiêu cực từ cơn bão số 3, khiến chi phí sản xuất và giá cả tiêu dùng leo thang.

Dù đạt được nhiều thành tựu, kinh tế Việt Nam năm 2024 vẫn đối mặt với những thách thức lớn từ rủi ro tỷ giá, biến động chính trị toàn cầu và khả năng suy giảm tiêu dùng nội địa. Theo nhận định của nhóm nghiên cứu, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP từ 6,8 - 7%, Chính phủ cần tiếp tục thực hiện đồng bộ và linh hoạt các chính sách tài khóa, tiền tệ và các giải pháp điều hành hiệu quả.

Kinh tế tăng trưởng bền vững

Cũng theo nội dung báo cáo phân tích của nhóm nghiên cứu về tình hình GDP trong nước, căn cứ theo số liệu từ Tổng cục Thống kê và Báo cáo Ngành Ngân hàng Việt Nam quý III/2024, GDP trong giai đoạn này ước tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng cao thứ hai kể từ năm 2020, chỉ đứng sau tốc độ tăng 8,98% của cùng kỳ năm 2022.

Dự báo lạm phát cả năm 2024 khoảng 4 - 4,5% do giá năng lượng và thực phẩm tăng
Xuất nhập khẩu 09 tháng của Việt Nam, 2020-2024 (tỷ USD). Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Theo đó, động lực chính cho tăng trưởng GDP đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng với mức tăng 8,2%, đóng góp hơn 46% vào tổng GDP. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là trụ cột khi tăng trưởng đạt 8,34%, đóng góp 2,7 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

Theo nhóm nghiên cứu, sự giảm giá trong nhóm bưu chính, viễn thông đã phần nào kiềm chế mức tăng CPI, nhờ các chương trình khuyến mãi từ doanh nghiệp.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9 tháng đầu năm tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện, nước, và vật liệu xây dựng tăng cao. Riêng tháng 9, CPI tăng 2,18% so với cuối năm 2023.

Tính chung, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 578,47 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2023. Việt Nam duy trì thặng dư thương mại với giá trị xuất siêu 20,79 tỷ USD. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, trong khi Trung Quốc giữ vị trí dẫn đầu về nhập khẩu. Đầu tư nước ngoài cũng ghi nhận tín hiệu tích cực, với vốn FDI thực hiện đạt 17,34 tỷ USD, cao nhất trong năm năm qua, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất.

Chia sẻ về triển vọng FDI trong các năm tới và những lĩnh vực nào cần được chú trọng để thu hút đầu tư hiệu quả hơn, theo ông Nguyễn Nhật Minh - thành viên nhóm nghiên cứu, Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng cho biết, dựa trên số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tại Việt Nam 9 tháng qua đạt gần 25 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Điều này cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Triển vọng FDI trong các năm tới được dự đoán sẽ tiếp tục tích cực, nhờ vào môi trường đầu tư ngày càng cải thiện và các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Để thu hút FDI hiệu quả hơn, Việt Nam cần chú trọng vào một số lĩnh vực then chốt.

Đầu tiên là lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là sản xuất chip bán dẫn và linh kiện điện tử, đang trở thành ưu tiên hàng đầu cho FDI tại Việt Nam. Với sự gia tăng nhu cầu toàn cầu về linh kiện điện tử và thiết bị công nghệ, Việt Nam có cơ hội lớn để thu hút đầu tư từ các tập đoàn lớn như Intel, Samsung...

Để phát triển lĩnh vực này, Việt Nam cần tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, cải thiện cơ sở hạ tầng và tạo ra môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Việc xây dựng các khu công nghiệp chuyên biệt cho công nghệ cao sẽ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghiệp toàn cầu vốn

Ông Nguyễn Nhật Minh - thành viên nhóm nghiên cứu, Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng cũng chỉ ra rằng, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo cũng là những lĩnh vực tiềm năng, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững toàn cầu. Để đạt được điều này, chính phủ cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tăng cường minh bạch và bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư.

Đồng thời, việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại và phát triển các khu công nghiệp chất lượng cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Với những nỗ lực này, Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành điểm đến hấp dẫn cho FDI trong tương lai.

Thu Hương

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 17,150
Kim TT/AVPL 16,860 17,160
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 17,150
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 171,500
Hà Nội - PNJ 168,500 171,500
Đà Nẵng - PNJ 168,500 171,500
Miền Tây - PNJ 168,500 171,500
Tây Nguyên - PNJ 168,500 171,500
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 171,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 17,150
Miếng SJC Nghệ An 16,850 17,150
Miếng SJC Thái Bình 16,850 17,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 17,100
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,290 16,990
Trang sức 99.99 16,300 17,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 17,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 17,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 1,713
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 1,714
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 1,698
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 168,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 127,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 115,626
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 103,738
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 99,153
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 70,964
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Cập nhật: 27/03/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80