Dự báo yếu tố "kìm chân" khiến ngân hàng khó cải thiện NIM năm 2025

Ánh Tuyết
MBS dự báo NIM của các ngân hàng khó có thể tăng đáng kể năm 2025. Bởi trong khi lãi suất huy động khó có thể duy trì ở mức thấp, chịu nhiều áp lực tăng dần, thì các ngân hàng có thể vẫn tiếp tục hạ lãi suất cho vay trong 6-9 tháng tới vì nhiều nguyên do.
aa

Trong báo cáo chiến lược Vững bước tiến tới “kỷ nguyên vươn mình” vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục hạ lãi suất cho vay trong 6-9 tháng tới để hỗ trợ khách hàng vì nhu cầu tín dụng vẫn chưa phục hồi hoàn toàn.

Việc phục hồi chậm của các khoản vay mua nhà, do nguồn cung bất động sản bị hạn chế, chủ yếu làm chậm lại hoạt động vay bán lẻ vào năm 2024 và xu hướng này có thể kéo dài trong 06 tháng tới, làm giảm thêm lợi suất tài sản của các ngân hàng vào năm 2025.

Hội tụ ba yếu tố, tăng trưởng tín dụng sẽ vượt trội

Tính riêng quý III/2024, biên lãi thuần (NIM) của các ngân hàng niêm yết giảm 4 điểm cơ bản theo quý và giảm 15 điểm cơ bản so với năm 2023, đạt 3,37%. Nhìn chung, hầu hết các ngân hàng đều ghi nhận mức giảm NIM trong 9 tháng năm 2024, trong đó MB và VIB có mức giảm lớn nhất lần lượt là 119 điểm cơ bản và 113 điểm cơ bản so với năm 2023.

Lãi suất huy động năm 2025 khó có thể duy trì ở mức thấp như năm 2024 do thanh khoản hạn chế do áp lực lớn từ tỷ giá hối đoái tăng cao. Hơn nữa, lãi suất liên ngân hàng có dấu hiệu tăng trong những tháng gần đây do biến động toàn cầu.

Do đó, chi phí vốn (COF) của các ngân hàng năm 2025 dự báo sẽ tăng nhẹ so với năm 2024. Do đó, MBS cho rằng NIM của các ngân hàng khó có thể tăng đáng kể vào năm 2025.

Cũng theo MBS, lãi suất huy động duy trì ở mức thấp và nhu cầu tín dụng bán lẻ yếu trong nửa đầu năm khuyến khích các ngân hàng giảm lãi suất cho vay trong quý III/2024.

Hơn nữa, Thông tư 06/2023/TT-NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại phải công bố lãi suất cho vay mới, thúc đẩy tính minh bạch. Chính sách này làm tăng cường cạnh tranh giữa các ngân hàng, góp phần làm giảm đáng kể lãi suất cho vay vào quý III/2024.

Ngoài ra, tác động của cơn bão Yagi thúc đẩy các ngân hàng liên tục hạ lãi suất và tung ra các gói vay ưu đãi để hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân trong quý III/2024.

Tính đến 7/12, tín dụng toàn hệ thống tăng trưởng 12,5% so với đầu năm, nhanh hơn so với cùng kỳ năm ngoái và tiến gần mục tiêu 14-15% của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho cả năm. Nhờ tốc độ giải ngân đầu tư công mạnh mẽ và nhu cầu tín dụng cao hơn của quý 4, nhóm nghiên cứu cho rằng mức tăng trưởng 14-15% là khả thi.

Dự báo yếu tố

Nhìn nhận các yếu tố thúc đẩy hoạt động tín dụng năm 2025, MBS chỉ rõ sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam vào năm 2025 được thúc đẩy bởi sự phục hồi của hoạt động sản xuất và thương mại, nhờ nhu cầu trong và ngoài nước tăng lên. Điều này dựa trên việc NHNN duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng vào năm 2025.

"Thúc đẩy đầu tư công mạnh mẽ hơn trong năm 2025 dự kiến ​​sẽ tạo việc làm và hỗ trợ nhu cầu tín dụng, phù hợp với mục tiêu phục hồi kinh tế và triển khai các dự án cơ sở hạ tầng lớn của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025" - MBS đánh giá.

Trong đó, các ngân hàng có hội tụ đủ ba điều kiện sẽ có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn vào năm 2025. Một là, những nhà băng sử dụng hiệu quả và tối đa hạn mức tín dụng trong năm 2024 sẽ có lợi thế cạnh tranh trong việc đảm bảo hạn mức tín dụng tương đương cho năm tài chính 2025.

Hai là, tăng trưởng chi phí dự phòng và cải thiện chất lượng tài sản. Việc tăng cường chi phí trích lập dự phòng trong năm 2024, cùng với chất lượng tài sản cải thiện sẽ giảm bớt áp lực gia tăng của NPL (nợ xấu) trong năm 2025 khi tăng trưởng tín dụng bán lẻ phục hồi.

Ba là, sự phục hồi mạnh mẽ của NIM trong năm 2024 sẽ cho phép các ngân hàng có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay, mang lại lợi thế quan trọng trong việc mở rộng tín dụng vào năm 2025.

Tăng trưởng huy động thua xa tín dụng kích hoạt cuộc đua lãi suất

Còn về tăng trưởng huy động, theo MBS, tính đến hết tháng 9 năm 2024, tổng cung tiền (M2) đạt 16,949 nghìn tỷ đồng, tăng 5.94% so với đầu năm. Tiền gửi cá nhân tăng mạnh hơn ở mức 6,5%, cao hơn tiền gửi doanh nghiệp (tăng 3,4% so với đầu năm).

Đáng chú ý, M2 trong tháng 9 năm 2024 ghi nhận mức tăng trưởng 1,75% so với tháng trước, được thúc đẩy bởi chính sách tiền tệ linh hoạt của NHNN và việc các ngân hàng vừa và nhỏ tăng lãi suất huy động kể từ tháng 4 năm 2024 để cải thiện tăng trưởng tiền gửi.

Dự báo yếu tố
Ảnh minh họa

Tổng số dư tiền gửi của các ngân hàng niêm yết tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, LPBank, MSB và Sacombank dẫn đầu tăng trưởng huy động trong số các ngân hàng, đạt mức ấn tượng lần lượt là 14,3%; 12,2% và 11%.

Theo NHNN, tổng lượng tiền gửi tính đến 7/12 đạt khoảng 14,8 triệu tỷ đồng, tăng 7,36% so với đầu năm), chậm hơn đáng kể so với mức tăng trưởng tín dụng là 12,5%.

Theo ghi nhận, lãi suất tiền gửi bắt đầu tăng trở lại vào tháng 4 do việc rút dần tiền gửi của công chúng khỏi hệ thống ngân hàng khiến huy động khó khăn.

Xu hướng tăng trở nên rõ rệt hơn từ tháng 6, khi tăng trưởng tín dụng tăng tốc từ 3,4% vào cuối tháng 5 lên 6,1% vào cuối tháng 6. Tăng trưởng tín dụng vượt xa tăng trưởng huy động từ 2-3 lần thúc đẩy cuộc cạnh tranh tăng lãi suất tiền gửi, với một số ngân hàng vượt quá 6%/năm tại một số thời điểm.

Tính đến cuối tháng 11, lãi suất tiền gửi bình quân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại ở mức 5%, tăng 14 điểm cơ bản so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất tại các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn ở mức 4,7%, thấp hơn 26 điểm cơ bản so với đầu năm.

Dự báo về mặt bằng lãi suất tiền gửi, MBS cho rằng lãi suất huy động sẽ tăng thêm 20 điểm cơ bản vào cuối năm, dao động trong khoảng 5,1-5,2% do tăng trưởng tín dụng đang tăng nhanh gần gấp đôi so với huy động vốn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Xem thêm
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80