FED giảm lãi suất và các động thái tiếp theo cho chu kỳ mới

Chí Tín
(TBTCO) - Sau kết quả cuộc họp tháng 9 với quyết định giảm mạnh lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), các nhà đầu tư tiếp tục dự đoán về các động thái tiếp theo của FED trong các cuộc họp tháng 11 và 12 với xu hướng lãi suất có thể tiếp tục giảm thêm. Trong dòng chảy này, có nhiều yếu tố tác động đến nền kinh tế Mỹ và theo đó, có những ảnh hưởng đến Việt Nam.
aa
FED giảm lãi suất và các động thái tiếp theo cho chu kỳ mới
Kinh tế Mỹ chậm lại có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Có thể có những đợt hạ tiếp theo

Sau khi kết thúc cuộc họp tháng 9, FED đã đi đến quyết định giảm mạnh 0,5% lãi suất xuống 4,75 – 5%. Kết quả này khá đồng nhất với các dự báo của thị trường trong một vài ngày gần sát cuộc họp của FED, nhưng tỏ ra mạnh tay hơn khá nhiều so với những dự báo cũ hơn. Thời điểm đầu tháng 9 trở về trước, thị trường vẫn nghiêng nhiều hơn về khả năng FED chỉ giảm nhẹ lãi suất ở mức khoảng 0,25%.

Động thái hạ lãi suất với kịch bản khá mạnh tay gửi đi các thông điệp cho thấy, cơ quan này đã yên tâm với tỷ lệ lạm phát đang dần được kiểm soát. Báo cáo lạm phát cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ tăng 0,2% trong tháng 8, phù hợp với dự báo của Dow Jones. Với mức tăng này, tỷ lệ lạm phát trong 12 tháng vừa qua tăng 2,5%, thấp hơn 0,4% so với số liệu tháng 7 và thấp hơn so với ước tính là 2,6%.

Tuy nhiên, hành động của FED cũng khiến nhà đầu tư nhìn nhận ở góc độ cho rằng, cơ quan điều hành thị trường Mỹ đang chịu áp lực phải thực hiện đảo chiều chính sách tiền tệ trước một số dấu hiệu cho thấy nền kinh tế Mỹ có thể đối mặt với nguy cơ suy thoái. Trong đó, số liệu thị trường lao động đang là một trong những con số cảnh báo.

Báo cáo việc làm Mỹ tháng 8/2024 cho thấy, thị trường lao động chỉ bổ sung thêm 142.000 việc làm mới, thấp hơn con số ước tính của các chuyên gia là 160.000 việc làm. Đây là mức tăng trưởng việc làm phi nông nghiệp trong tháng 8 thấp nhất kể từ năm 2017. Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong tháng 8 đứng ở mức 4,2%, ngang bằng với dự báo của các nhà phân tích. Các số liệu này cho thấy, thị trường lao động Mỹ đang có dấu hiệu suy yếu.

Đặc biệt, hành động giảm lãi suất của FED có thể sẽ còn tiếp tục diễn ra trong các cuộc họp tiếp theo ngay trong năm 2024. Sau cuộc họp mới diễn ra của FED đã có kết quả, dự báo từ công cụ dự báo FedWatch tại thời điểm sáng ngày 20/9 theo giờ Việt Nam cho thấy, có tới 60,5% khả năng xác suất FED sẽ tiếp tục giảm thêm 0,25% lãi suất (xuống 4,5 – 4,75%) trong cuộc họp tháng 11. Thậm chí, thị trường cũng đặt cược cả vào kịch bản cơ quan này sẽ giảm 0,5% lãi suất (xuống 4,25 – 4,5%) với xác suất cho kịch bản này là 39,5%. Ngoài ra, dự báo về khả năng FED tiếp tục giảm lãi suất trong cuộc họp tháng 12 xuống 4 – 4,25% cũng khá cao với xác suất dự báo là 50,4%.

Những tác động đa chiều

Về lý thuyết, động thái hạ lãi suất của các ngân hàng trung ương thường gắn liền với mục tiêu kích thích nền kinh tế, nhưng động thái hiện tại của FED không hẳn đã được giới tài chính nhìn nhận với góc nhìn tích cực hoàn toàn với kinh tế Mỹ, ít nhất là trong ngắn hạn.

Bà Lyn Alden, người sáng lập Lyn Alden Investment Strategy cho biết, việc giảm lãi suất của FED khiến mọi người nhìn thấy viễn cảnh về một cuộc “di cư” vốn lớn tiềm tàng khỏi Mỹ để chuyển dịch sang các thị trường khác. Bởi lẽ, hiện có lượng vốn lớn toàn cầu đang đầu tư tại thị trường chứng khoán Mỹ và khi lãi suất giảm có khả năng làm giảm giá đồng Đô la Mỹ. Theo quan điểm của nhà đầu tư nước ngoài, lợi nhuận của họ sẽ không được tốt lắm khi sở hữu cổ phiếu được định giá bằng đồng Đô la trong bối cảnh đồng Đô la giảm giá. Điều này có thể khiến những người nắm giữ cổ phiếu nước ngoài rút khỏi thị trường Mỹ.

Trong khi đó, tác động kích thích các hoạt động kinh tế và tiêu dùng nhờ môi trường lãi suất thấp cũng chưa hẳn có thể có tác dụng ngay, mà thậm chí có thể “tác động ngược” trong ngắn hạn. Ông Nguyễn Minh Tuấn, CEO của AFA Capital cho biết, các dự báo về chu kỳ giảm lãi suất của Mỹ vẫn đang tiếp tục diễn ra có thể khiến thị trường có tâm lý chờ đợi. Cả doanh nghiệp và người tiêu dùng đều có thể sẽ trì hoãn chưa vay để đầu tư hoặc chi tiêu ngay mà họ sẽ muốn chờ để đợi khi lãi suất thấp hơn họ mới vay để thực hiện kế hoạch của họ. Điều này sẽ khiến cho thị trường có thể sẽ tạm thời chậm lại trong ngắn hạn, sau đó mới đi vào giai đoạn tăng trưởng khi lãi suất về đến vùng đáy.

Trong khi đó, đánh giá về các yếu tố kinh tế Mỹ đối với Việt Nam, ông Nguyễn Bá Hùng, Kinh tế gia trưởng Ngân hàng ADB tại Việt Nam cho biết, tổng cầu của nền kinh tế Mỹ sụt giảm có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam vì Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam.

Trên thị trường tiền tệ trong nước, PSG.TS. Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên cao cấp thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, lãi suất FED giảm khiến tỷ giá giữa đồng Việt Nam so với Đô la Mỹ hạ nhiệt và điều này đang tạo thuận để Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thanh khoản hệ thống nhằm thiết lập một mặt bằng lãi suất liên ngân hàng mới thấp hơn.

Thực tế những ngày qua, lãi suất thị trường liên ngân hàng cũng đang đi vào xu hướng giảm. Cụ thể, đầu tháng 9, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng ghi nhận ở mốc 4,59%, sau đó đi vào xu hướng giảm đều và hiện đã về mức chỉ còn 3,22%. Mặt bằng này đã thấp hơn khá nhiều so với trần lãi suất qua đêm 5% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 3 tháng trên thị trường liên ngân hàng sau một giai đoạn vẫn có biểu hiện trồi sụt hồi đầu tháng 9 thì đến nay cũng đi vào xu hướng giảm. Cụ thể, lãi suất 3 tháng ghi nhận ở mức 5,5% vào ngày 10/9, đến nay đã lùi về mốc chỉ còn 4,66%.

Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam

Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong 8 tháng năm 2024 đạt 265,09 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 77,9 tỷ USD.

Chí Tín

Đọc thêm

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

(TBTCO) - Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, NCB thông qua kế hoạch kinh doanh 2026, với mục tiêu dư nợ cho vay đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%; đồng thời, thông qua phương án chào bán riêng lẻ 1 tỷ cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 29.280 tỷ đồng. Lãnh đạo NCB cũng nhấn mạnh, mục tiêu hoàn thành phương án cơ cấu lại cuối năm 2027, sớm đưa NCB trở lại "đường đua" bình thường.
Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

(TBTCO) - Hàng chục ngàn lượt khách hàng sẽ được hưởng lợi từ chương trình “Lướt Shopee, săn deal Thẻ” với ưu đãi giảm giá trực tiếp lên tới 100.000 VND khi mua sắm trên Shopee và thanh toán bằng Thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK
Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

(TBTCO) - Sáng 2/4, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.107 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.851,65 - 26.362 VND/USD. Trước đó, Sacombank gây chú ý khi giá mua vào tăng mạnh 101 đồng, trong khi bán ra chỉ tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,11% xuống 99,54 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ.
Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Kim TT/AVPL 17,010 ▼370K 17,360 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Nguyên Liệu 99.99 15,550 ▼370K 15,750 ▼370K
Nguyên Liệu 99.9 15,500 ▼370K 15,700 ▼370K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 ▼420K 16,850 ▼320K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 ▼420K 16,800 ▼320K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 ▼420K 16,780 ▼320K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Hà Nội - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Đà Nẵng - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Miền Tây - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Tây Nguyên - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
NL 99.90 15,520 ▼350K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550 ▼350K
Trang sức 99.9 16,490 ▼350K 17,190 ▼350K
Trang sức 99.99 16,500 ▼350K 17,200 ▼350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 ▼1567K 17,352 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 ▼1567K 17,353 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,698 ▼37K 1,733 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,698 ▼37K 1,734 ▼32K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,678 ▼37K 1,718 ▲1543K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▼3168K 170,099 ▼3168K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▼2400K 129,013 ▼2400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▼2176K 116,986 ▼2176K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▼1953K 104,958 ▼1953K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▼1866K 100,319 ▼1866K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▼1334K 71,798 ▼1334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Cập nhật: 02/04/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17571 17843 18419
CAD 18386 18663 19280
CHF 32267 32650 33298
CNY 0 3470 3830
EUR 29715 29987 31012
GBP 33958 34347 35273
HKD 0 3228 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19916 20198 20726
THB 719 782 835
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,945 29,969 31,208
JPY 160.99 161.28 169.95
GBP 34,280 34,373 35,351
AUD 17,844 17,908 18,471
CAD 18,633 18,693 19,264
CHF 32,650 32,752 33,506
SGD 20,102 20,165 20,833
CNY - 3,760 3,880
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.07 16.76 18.12
THB 770.41 779.93 830.4
NZD 14,766 14,903 15,252
SEK - 2,734 2,813
DKK - 4,008 4,123
NOK - 2,665 2,742
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,113.41 - 6,860.69
TWD 745.48 - 897.54
SAR - 6,917.38 7,241.41
KWD - 83,795 88,608
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,943 30,063 31,240
GBP 34,385 34,523 35,524
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,583 32,714 33,636
JPY 161.88 162.53 169.85
AUD 17,861 17,933 18,518
SGD 20,165 20,246 20,824
THB 788 791 825
CAD 18,633 18,708 19,272
NZD 14,880 15,408
KRW 16.69 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26362
AUD 17748 17848 18779
CAD 18568 18668 19682
CHF 32523 32553 34140
CNY 3758.7 3783.7 3918.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29900 29930 31653
GBP 34258 34308 36069
HKD 0 3355 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20072 20202 20935
THB 0 748.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 16000000 16000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,362
USD20 26,168 26,218 26,362
USD1 26,168 26,218 26,362
AUD 17,807 17,907 19,016
EUR 30,073 30,073 31,484
CAD 18,526 18,626 19,935
SGD 20,160 20,310 20,875
JPY 162.13 163.63 168.21
GBP 34,211 34,561 35,428
XAU 16,878,000 0 17,282,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80