FED tăng lãi suất, khả năng sẽ tạm dừng chu kỳ thắt chặt

Hoàng Lê (theo Bloomberg)
(TBTCO) - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản và ám chỉ đây có thể là động thái cuối cùng trong chiến dịch thắt chặt mạnh mẽ nhất kể từ những năm 1980, khi rủi ro kinh tế gia tăng.
aa
FED tăng lãi suất, khả năng sẽ tạm dừng chu kỳ thắt chặt
Với mức tăng 25 điểm cơ bản, đã nâng lãi suất quỹ liên bang chuẩn của FED lên phạm vi mục tiêu từ 5% đến 5,25%, mức cao nhất kể từ năm 2007.

“Ủy ban sẽ giám sát chặt chẽ thông tin và đánh giá tác động đối với chính sách tiền tệ” - Ủy ban Thị trường mở Liên bang Mỹ (FOMC) cho biết trong tuyên bố ngày 3/5/2023 (giờ Mỹ). Đồng thời, bỏ qua một phần trong tuyên bố trước đó vào tháng 3 rằng, ủy ban “sẽ bổ sung một số chính sách phù hợp”. Thay vào đó, FOMC sẽ tính đến các yếu tố khác nhau “trong việc xác định mức độ phù hợp của việc củng cố chính sách bổ sung”.

FED không ủng hộ việc cắt giảm lãi suất

“Tôi nghĩ rằng chính sách đó là chặt chẽ” - Chủ tịch FED Jerome Powell nói tại cuộc họp báo sau quyết định tăng lãi suất. Tuy nhiên, ông cho biết thêm: “Chúng tôi sẵn sàng làm nhiều hơn nữa nếu cần có thêm sự thắt chặt chính sách tiền tệ”.

Với mức tăng này, đã nâng lãi suất quỹ liên bang chuẩn của FED lên phạm vi mục tiêu từ 5% đến 5,25%, mức cao nhất kể từ năm 2007, từ mức gần bằng 0 vào đầu năm ngoái. Cuộc bỏ phiếu đã được nhất trí và ông Powell cho biết sự ủng hộ đối với việc tăng lãi suất 25 điểm cơ bản là “rất mạnh mẽ trên diện rộng”.

Ông Powell đã bác bỏ những kỳ vọng về việc cắt giảm lãi suất trong năm nay, nhưng thừa nhận rằng các nhà đầu tư kỳ vọng lạm phát sẽ giảm nhanh chóng có thể có suy nghĩ đó. “Chúng tôi trong ủy ban có quan điểm rằng lạm phát sẽ không giảm quá nhanh. Trong bối cảnh đó, nếu dự báo nói chung là đúng thì việc cắt giảm lãi suất sẽ không phù hợp và chúng tôi sẽ không cắt giảm lãi suất” - ông nói.

Liệu tỷ lệ đó có đủ cao để đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2% của FED hay không sẽ là một “đánh giá liên tục” dựa trên dữ liệu sắp tới, ông Powell cho biết, đồng thời bổ sung thêm rằng triển vọng lạm phát của các quan chức FED không ủng hộ việc cắt giảm lãi suất.

Cổ phiếu biến động và lợi suất trái phiếu giảm khi người đứng đầu FED phát biểu.

Các nhà hoạch định chính sách quyết tâm đảm bảo lạm phát sẽ tiếp tục giảm tốc - có khả năng kéo theo chi phí cho việc làm - ngay cả khi hệ thống ngân hàng phải chịu đựng tình trạng căng thẳng liên tục, các nhà lập pháp tăng cường chỉ trích và dữ liệu mới nhất cho thấy sự yếu kém đang nổi lên trên thị trường lao động.

Ông Powell cũng nói các điều kiện của ngân hàng đã “được cải thiện trên diện rộng” kể từ đầu tháng 3, nhưng cho biết những căng thẳng trong lĩnh vực này “dường như dẫn đến các điều kiện tín dụng thậm chí còn chặt chẽ hơn đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp”, sau khi tín dụng bị thắt chặt trong năm qua.

FED tăng lãi suất, khả năng sẽ tạm dừng chu kỳ thắt chặt
Chủ tịch FED Jerome Powell cho biết, các quan chức sẽ áp dụng cách tiếp cận dựa trên dữ liệu để quyết định xem có cần củng cố chính sách bổ sung hay không.

Cho rằng, những điều kiện tín dụng chặt chẽ hơn này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, việc tuyển dụng và lạm phát, nhưng theo người đứng đầu FED: “Mức độ của những tác động này vẫn chưa chắc chắn”.

Ông Powell cũng cho rằng có khả năng kinh tế Mỹ sẽ trải qua một cuộc suy thoái nhẹ, nhưng “trường hợp tránh suy thoái theo quan điểm của tôi có nhiều khả năng xảy ra hơn là suy thoái”. Ông cho biết, mức tăng lương đang giảm và cơ hội việc làm giảm nhưng không đi kèm với tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Áp lực từ khủng hoảng ngân hàng và chính trị

Việc thắt chặt chính sách nhanh chóng trong năm qua nhằm kiềm chế tỷ lệ lạm phát cao nhất trong nhiều thập kỷ cũng gây áp lực lên các tổ chức tài chính, dẫn đến sự đổ vỡ ngân hàng lớn nhất kể từ năm 2008.

Vào tháng 3/2023, Ngân hàng Thung lũng Silicon của California và Ngân hàng Signature của New York đã gặp khó khăn trong bối cảnh tiền gửi chảy ra ồ ạt, khiến FED phải tung ra một cơ sở cho vay khẩn cấp nhằm củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.

Các biện pháp khẩn cấp đã dập tắt tình trạng hỗn loạn của thị trường, cho phép FED tiếp tục cuộc chiến chống lại lạm phát, nhưng căng thẳng lại xuất hiện.

Các dự đoán được công bố sau cuộc họp tháng 3 của FOMC cho thấy các quan chức gần như nhất trí khi kỳ vọng việc duy trì tỷ lệ lãi suất quỹ liên bang trên 5% cho đến cuối năm 2023 là phù hợp.

JPMorgan Chase & Co. đã đồng ý mua lại Ngân hàng First Republic đang gặp khó khăn trong một thỏa thuận do chính phủ làm trung gian vào ngày 1/5 và cổ phiếu của các ngân hàng khác trong khu vực đã lao dốc vào một ngày sau đó. Điều đó đặt ra những câu hỏi mới về việc các nhà hoạch định chính sách có thể duy trì lãi suất ở mức cao trong bao lâu.

Trong tuyên bố ngày 3/5, FOMC đã nhắc lại rằng “hệ thống ngân hàng Mỹ là lành mạnh và linh hoạt”.

Trước đó, ngày 2/5, Bộ Lao động Mỹ đã công bố báo cáo hàng tháng cho thấy cơ hội việc làm giảm và số người bị sa thải tăng vọt trong tháng 3, một dấu hiệu cho thấy thị trường việc làm cuối cùng cũng bắt đầu cảm nhận được tác động của việc thắt chặt tiền tệ.

Tuy nhiên, khả năng thất nghiệp gia tăng đang gióng lên hồi chuông cảnh báo ở Washington khi chiến dịch bầu cử tổng thống năm 2024 bắt đầu vào guồng. Một nhóm thượng nghị sĩ Mỹ do nghị sĩ Elizabeth Warren và Bernie Sanders dẫn đầu đã công bố một bức thư gửi cho Powell hôm 1/5, thúc giục ông ngừng tăng lãi suất.

Mặc dù FED có thể đã hoàn tất việc tăng lãi suất, nhưng Powell và các đồng nghiệp của ông đã cam kết sẽ giữ chúng ở mức cao trong một thời gian để đảm bảo thước đo lạm phát của ngân hàng trung ương được giữ vững - giảm từ mức cao nhất của năm ngoái là 7% xuống 4,2% vào tháng 3 - tiếp tục giảm xuống hướng tới mục tiêu 2%.

Các dự đoán được công bố sau cuộc họp tháng 3 của FOMC cho thấy các quan chức gần như nhất trí khi kỳ vọng việc duy trì tỷ lệ lãi suất quỹ liên bang trên 5% cho đến cuối năm 2023 là phù hợp.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư không nhận thấy điều đó. Giá của các hợp đồng tương lai lãi suất từ ​​lâu đã báo hiệu kỳ vọng về việc FED sẽ xoay trục để cắt giảm lãi suất trong những tháng tới. Trước khi FED công bố tăng lãi suất chính thức, các nhà đầu tư còn dự đoán về việc cơ quan quản lý sẽ cắt giảm khoảng 70 điểm cơ bản vào cuối năm nay./.

Hoàng Lê (theo Bloomberg)

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050 ▼100K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 ▼30K 13,960 ▼30K
Trang sức 99.99 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140 ▼1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1201K 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cập nhật: 04/08/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17930 18204 18783
CAD 18170 18446 19065
CHF 31775 32156 32805
CNY 0 3848 3941
EUR 29606 29827 30908
GBP 34499 34890 35828
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15131 15716
SGD 19924 20206 20781
THB 702 765 818
USD (1,2) 25998 0 0
USD (5,10,20) 26039 0 0
USD (50,100) 26068 26077 26447
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,480
USD20 26,060 26,160 26,599
USD1 24,111 26,160 26,649
AUD 18,141 18,241 19,348
EUR 29,593 29,693 31,349
CAD 18,310 18,410 19,716
SGD 20,183 20,333 20,945
JPY 163.73 165.23 170.76
GBP 34,678 34,828 35,890
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80