Giá vàng hôm nay (6/11): Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới rạng sáng ngày đầu tuần giảm 1,2 USD so với mức chốt phiên giao dịch tuần trước, xuống 1.991 USD/ounce. Dù giảm, nhưng các chuyên gia vẫn duy trì lạc quan về vàng trong tuần này. Trong nước giá tiếp tục “đổ dốc” về quanh mốc 70 triệu đồng/lượng.
aa
Giá vàng hôm nay (6/11): Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm
Nguồn: Công ty CP Dịch vụ trực tuyến Rồng Việt VDOS - Cập nhật lúc 07:46 (06/11/2023)

Thị trường thế giới

Giá vàng thế giới rạng sáng ngày đầu tuần có xu hướng giảm với vàng giao ngay giảm 1,2 USD so với mức chốt phiên giao dịch tuần trước xuống 1.991 USD/ounce.

So với cuối tuần liền trước đó, vàng đã giảm 10 USD trong tuần.

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 59,4 triệu đồng/lượng (chưa thuế, phí), chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới khoảng 10,6 triệu đồng/lượng.

Thị trường trong nước

Tại thời điểm khảo sát lúc 5h, giá vàng trên sàn giao dịch của một số công ty như sau:

Giá vàng SJC ở khu vực Hà Nội và Đà Nẵng đang niêm yết mức 69,05 triệu đồng/lượng mua vào và 70,07 triệu đồng/lượng bán ra.

Tại TP. Hồ Chí Minh, vàng SJC vẫn đang mua vào mức tương tự như ở khu vực Hà Nội và Đà Nẵng nhưng bán ra thấp hơn 20.000 đồng. Như vậy, so với rạng sáng qua, giá vàng miếng SJC không đổi.

DOJI tại khu vực Hà Nội đã điều chỉnh giảm 1 triệu đồng ở chiều mua và 50.000 đồng ở chiều bán xuống lần lượt 68 triệu đồng/lượng và 69,95 triệu đồng/lượng. Tại TP. Hồ Chí Minh, vàng thương hiệu này đang mua vào thấp hơn 1 triệu đồng và bán ra thấp hơn 50.000 đồng so với khu vực Hà Nội, giảm 50.000 đồng ở cả 2 chiều.

Phú Quý SJC đang thu mua vàng miếng với giá 68,3 triệu đồng/lượng và bán ra mức 69,8 triệu đồng/lượng, giảm 700.000 đồng ở chiều mua và 200.000 đồng ở chiều bán.

Giá vàng miếng PNJ niêm yết ở mức 68,9 triệu đồng/lượng mua vào và 70 triệu đồng/lượng bán ra, giảm 500.000 đồng ở chiều mua và 350.000 đồng ở chiều bán so với rạng sáng qua. Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh giảm tiếp 700.000 đồng ở chiều mua và 200.000 đồng ở chiều bán xuống lần lượt 68,3 triệu đồng/lượng và 69,7 triệu đồng/lượng.

Còn tại Công ty Vàng bạc đá quý Mi Hồng, giá vàng SJC ở mức 68,80 - 69,80 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).

Tại Bảo Tín Mạnh Hải đang được giao dịch ở mức 69,00 - 70,15 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).

Dự báo

Khảo sát vàng hàng tuần của Kitco News cho thấy, các nhà phân tích và nhà đầu tư bán lẻ lạc quan về vàng cho tuần kết thúc vào ngày 10/11. Các chuyên gia kỳ vọng giá sẽ bứt phá trong tuần này dù không nhiều thông tin hỗ trợ.

Cũng theo khảo sát của Kitco News, có 9 chuyên gia (tương đương 60%) dự đoán giá vàng sẽ tăng cao hơn trong tuần tới, trong khi đó chỉ có 1 nhà phân tích (tương đương 7%) dự báo giá vàng giảm, 5 nhà phân tích còn lại (tương đương 33%) dự báo vàng sẽ có dấu hiệu ngang giá trong tuần tới.

Ngoài ra, kết quả trong các cuộc thăm dò trực tuyến có tới 64% kỳ vọng vàng tăng trong tuần giao dịch mới, 22% dự đoán giá vàng sẽ thấp hơn và 14% giữ quan điểm trung lập./.

Thu Dung (tổng hợp)

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 21/3 đảo chiều tăng trở lại tại hầu hết doanh nghiệp lớn. Mặt bằng giá được điều chỉnh tăng từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/3 giảm mạnh tại hầu hết doanh nghiệp, với mức điều chỉnh lên tới 7,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về quanh 172 - 175 triệu đồng/lượng.
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) vừa công bố sáng kiến “Vàng như một dịch vụ” (Gold-as-a-Service) nhằm xây dựng hạ tầng mới, mở ra giai đoạn phát triển tiếp theo cho vàng kỹ thuật số. Mô hình này được kỳ vọng định hình lại cách phát hành, vận hành các sản phẩm, tăng tính liên thông, thanh khoản; qua đó, vàng kỹ thuật số có thể dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
Giá vàng hôm nay ngày 19/3:  Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 19/3: Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Sáng ngày 19/3, giá vàng nhẫn được niêm yết quanh vùng 178,8 - 182,9 triệu đồng/lượng, ghi nhận điều chỉnh giảm tại một số doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 17/3 ghi nhận tăng nhẹ khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt nâng giá vàng miếng và vàng nhẫn thêm khoảng 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/3: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 179 - 182 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/3: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 179 - 182 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 16/3, giá vàng trong nước ghi nhận trạng thái đi ngang khi hầu hết doanh nghiệp kinh doanh lớn giữ nguyên giá niêm yết so với phiên trước. Vàng miếng và vàng nhẫn phổ biến quanh vùng 179 - 182 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/3: Giá vàng giảm sâu hơn 2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 15/3: Giá vàng giảm sâu hơn 2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 15/3 ghi nhận đà giảm sâu khi nhiều thương hiệu lớn đồng loạt hạ giá hơn 2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80