PV: Ông đánh giá thế nào về hiệu quả điều hành giá xăng dầu thời gian gần đây?
![]() |
| PGS.TS Ngô Trí Long |
PGS.TS Ngô Trí Long: Tôi cho rằng, hiệu quả điều hành giá xăng dầu thời gian gần đây khá tích cực, nhất là trong bối cảnh giá năng lượng trên thế giới biến động mạnh do rủi ro địa chính trị và gián đoạn nguồn cung.
Điểm tích cực lớn nhất là cơ quan điều hành đã không xử lý theo tư duy đơn tuyến, mà phối hợp đồng thời nhiều công cụ: điều chỉnh giá theo chu kỳ, sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giảm thuế nhập khẩu và bám sát diễn biến cung cầu. Nhờ vậy, thị trường không rơi vào trạng thái sốc giá kéo dài, không tạo ra tâm lý hoảng loạn diện rộng và vẫn giữ được ổn định tương đối về nguồn cung. Tuy nhiên, cũng phải nhìn thẳng rằng, cần có thêm những chính sách dài hạn.
PV: Chính phủ đã giảm thuế nhập khẩu xăng dầu về 0% đến hết tháng 4/2026. Ông bình luận gì về giải pháp này?
PGS.TS Ngô Trí Long: Theo Nghị định số 72/2026/NĐ-CP sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu, từ ngày 9/3/2026 đến hết 30/4/2026, thuế MFN được giảm từ 10% xuống 0% đối với xăng không chì và một số nguyên liệu pha chế xăng; đồng thời giảm từ 7% xuống 0% với diesel, dầu nhiên liệu, nhiên liệu bay và kerosine. Đây là một quyết định tài khóa rõ ràng, mạnh về thông điệp chính sách và có tác dụng tức thời trong việc hạ chi phí nhập khẩu biên.
Điểm đáng giá nhất của biện pháp này là giúp mở rộng không gian nhập khẩu cho doanh nghiệp đầu mối. Trong điều kiện chuỗi cung ứng quốc tế bất ổn, việc giảm thuế MFN về 0% giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong lựa chọn nguồn hàng, không bị bó hẹp quá nhiều vào một vài thị trường ưu đãi thuế theo các hiệp định thương mại tự do.
Điều này đặc biệt quan trọng khi Bộ Công thương cho biết, Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, còn hai nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất và Nghi Sơn mới đáp ứng khoảng 70% nhu cầu thị trường nội địa.
Theo tôi, đây là một giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực, nhưng để ổn định thị trường một cách bền vững, thì vẫn phải đi cùng các công cụ khác, chứ không thể dựa riêng vào giảm thuế.
![]() |
| Nguồn: Nghị định số 72/2026/NĐ-CP. Đồ họa: Phương Anh |
PV: Việc giảm thuế này sẽ tác động thực chất đến giá bán lẻ xăng dầu trong nước ra sao và chi phí đầu vào của doanh nghiệp?
PGS.TS Ngô Trí Long: Tác động thực chất của việc giảm thuế, theo tôi, trước hết nằm ở chỗ hạn chế đà tăng giá, hơn là tạo ra một cú giảm giá lớn ngay lập tức trên thị trường bán lẻ. Khi thuế nhập khẩu giảm về 0%, chi phí nhập khẩu của doanh nghiệp đầu mối giảm xuống, từ đó làm giảm một phần giá cơ sở. Điều này giúp cơ quan điều hành có thêm dư địa giữ giá, hoặc giảm mức tăng nếu giá dầu thế giới tiếp tục leo thang.
Đối với doanh nghiệp, nhất là vận tải, logistics và sản xuất, ý nghĩa lớn nhất là giảm áp lực chi phí đầu vào cận biên và hỗ trợ dự báo chi phí tốt hơn. Khi Nhà nước chủ động giảm thuế nhập khẩu, doanh nghiệp ít nhất có thể kỳ vọng rằng, chi phí nhiên liệu sẽ không tăng quá mạnh như kịch bản không can thiệp. Tác dụng này tuy không biểu hiện bằng một con số giảm sâu ngay trên bảng giá, nhưng lại rất đáng kể trong quản trị dòng tiền, lập kế hoạch giá thành, ký hợp đồng vận tải và bảo vệ biên lợi nhuận.
| Điều hành giá xăng dầu đúng hướng, phản ứng nhanh Theo PGS.TS Ngô Trí Long, công tác điều hành giá xăng dầu thời gian qua là đúng hướng, phản ứng nhanh và khá hiệu quả, nhưng vẫn cần tiếp tục củng cố nền tảng dự trữ, nguồn cung và minh bạch giá để tăng sức chống chịu cho thị trường về dài hạn. |
Tuy vậy, cũng không nên kỳ vọng quá mức. Do thị trường trong nước vẫn có khoảng 70% nguồn cung từ hai nhà máy lọc hóa dầu nội địa, nên mức giảm thuế nhập khẩu chỉ tác động trực tiếp lên phần hàng nhập khẩu khoảng 30%. Bởi vậy, lợi ích thực tế đối với doanh nghiệp sẽ là giảm bớt sức ép, chứ chưa đủ để làm chi phí logistics hay chi phí sản xuất giảm mạnh trên diện rộng. Hiệu ứng tích cực sẽ rõ hơn nếu giá dầu thế giới hạ nhiệt, tỷ giá ổn định và nguồn cung trong nước tiếp tục được duy trì thông suốt.
PV: Chính sách giảm thuế có thể hỗ trợ thị trường, nhưng cũng đặt ra bài toán về nguồn thu. Theo ông, cần nhìn nhận sự đánh đổi giữa hỗ trợ nền kinh tế và bảo đảm kỷ luật ngân sách như thế nào?
PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, cần nhìn nhận đây là một sự đánh đổi có tính toán và có giới hạn, chứ không phải sự nới lỏng tài khóa không có nguyên tắc. Trong bối cảnh giá dầu thế giới biến động mạnh, nếu Nhà nước không chủ động chia sẻ một phần gánh nặng qua công cụ thuế, chi phí nhiên liệu sẽ dội thẳng vào giá thành vận tải, logistics, sản xuất và cuối cùng là giá tiêu dùng.
Khi đó, ngân sách có thể không mất thu ngay ở khâu thuế nhập khẩu, nhưng nền kinh tế lại phải trả giá ở chỗ tăng chi phí sản xuất, suy giảm sức cạnh tranh và gia tăng áp lực lạm phát. Về mặt kinh tế học, giảm một phần thu ngắn hạn để bảo vệ nền tảng tăng trưởng và ổn định vĩ mô là lựa chọn hợp lý trong những thời điểm bất thường.
Tuy nhiên, hỗ trợ thị trường không có nghĩa là xem nhẹ kỷ luật ngân sách. Điều quan trọng là chính sách phải đúng thời điểm, đúng liều lượng và có thời hạn rõ ràng. Nghị định số 72/2026/NĐ-CP chỉ có hiệu lực đến hết ngày 30/4/2026, tức là Nhà nước xác định rất rõ đây là biện pháp tình thế để ứng phó với biến động ngắn hạn, không phải một cơ chế ưu đãi kéo dài. Cách thiết kế như vậy là phù hợp với yêu cầu giữ kỷ luật ngân sách, trong khi vẫn tạo dư địa hỗ trợ nền kinh tế.
PV: Ngoài giảm thuế, theo ông, cần phối hợp thêm những công cụ nào để thị trường xăng dầu vận hành ổn định và bền vững hơn?
PGS.TS Ngô Trí Long: Như tôi đã nhấn mạnh ở trên, để thị trường xăng dầu vận hành ổn định và bền vững, thì phải dùng một gói công cụ đồng bộ, chứ không thể trông chờ vào riêng thuế.
Thứ nhất, là sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, nhưng phải dùng đúng vai trò là công cụ làm mềm các cú sốc giá ngắn hạn.
Thứ hai, là tăng cường dự trữ và bảo đảm nguồn cung thực chất, bởi ổn định giá mà thiếu hàng thì thị trường vẫn bất ổn.
Thứ ba, là minh bạch cấu thành giá để doanh nghiệp và người dân hiểu rõ phần nào do giá thế giới, phần nào do thuế, chi phí kinh doanh, premium, tỷ giá và các yếu tố kỹ thuật khác. Khi cấu thành giá minh bạch, niềm tin thị trường sẽ tốt hơn và dư địa cho đầu cơ, găm hàng sẽ thu hẹp lại.
Về nguồn cung, đây là khâu đặc biệt quan trọng. Bộ Công thương cho biết, nguồn nhập khẩu trong tháng 3 cơ bản được bảo đảm, nhưng tháng 4 có thể khó khăn hơn nếu giá tăng và một số quốc gia hạn chế xuất khẩu để bảo đảm an ninh năng lượng. Điều đó có nghĩa là ngoài giá, Việt Nam còn phải quan tâm rất mạnh tới an ninh nguồn cung, bao gồm dự trữ bắt buộc, kiểm tra việc thực hiện tổng nguồn tối thiểu của thương nhân đầu mối và đa dạng hóa nguồn dầu thô cho các nhà máy lọc dầu.
Ở tầm dài hạn hơn, tôi cho rằng, cần hoàn thiện cơ chế điều hành theo hướng thị trường hơn nhưng minh bạch hơn, đồng thời nâng năng lực dự trữ và giảm phụ thuộc vào các cú sốc bên ngoài.
PV: Xin cảm ơn ông!




