Không loại trừ lãi suất liên ngân hàng chịu áp lực tăng nhất định

Thái Duy
(TBTCO) - Trong quý IV/2021, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng dự báo sẽ vẫn duy trì quanh mức như hiện tại. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng lãi suất liên ngân hàng có thể chịu áp lực tăng nhất định, đặc biệt vào giai đoạn cuối năm, mặc dù đây chỉ là áp lực ngắn hạn.
aa

Lãi suất liên ngân hàng chịu áp lực tăng ngắn hạn

Báo cáo của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS) cho biết, xu hướng giảm của lãi suất liên ngân hàng đã được hỗ trợ bởi thanh khoản của hệ thống dồi dào hơn trong quý III/2021 vừa qua. Lãi suất các kỳ hạn qua đêm (ON) đến 3 tháng được ghi nhận lần lượt ở 0,629%, 0,754%, 0,868%, 1,104% và 1,461%.

Không loại trừ lãi suất liên ngân hàng chịu áp lực tăng nhất định

Các chuyên gia của VCBS nhận định, lãi suất liên ngân hàng sẽ duy trì ở mặt bằng như hiện tại và thanh khoản thị trường dồi dào. Lý giải cho điều này, chuyên gia của VCBS cho rằng, các ngân hàng trung ương trên thế giới hướng tới trung hòa chính sách tiền tệ nới lỏng dần dần, như vậy, thanh khoản dồi dào vẫn được đảm bảo trên hệ thống ngân hàng.

Cùng với đó, Việt Nam cùng các nền tảng kinh tế vĩ mô sẽ là điểm đến thu hút của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời, với bối cảnh tình hình kinh tế trong nước là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước có những dư địa để điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt.

Tuy vậy, các chuyên gia của VCBS cũng không loại trừ khả năng lãi suất liên ngân hàng có thể chịu áp lực tăng nhất định, đặc biệt vào thời điểm cuối năm. Bởi theo yếu tố mùa vụ, cuối năm thường là thời điểm ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn. Cùng lúc, việc chuẩn bị thanh khoản đáp ứng các nhu cầu cuối năm của khách hàng đòi hỏi sự chuẩn bị nguồn lực nhất định.

Mặt khác, Chính phủ tiếp tục cho thấy sự quyết liệt trong giải ngân đầu tư công tạo nên kỳ vọng lượng tiền gửi được Kho bạc Nhà nước gửi tại hệ thống ngân hàng sẽ không còn dồi dào.

Như vậy, “trong quý IV, chúng tôi cho rằng mặt bằng lãi suất liên ngân hàng sẽ vẫn duy trì xung quanh mặt bằng như hiện tại và chỉ ghi nhận một số áp lực tăng ngắn hạn vào cuối năm” – chuyên gia của VCBS nhấn mạnh.

Trên thị trường mở, trong quý III, Ngân hàng Nhà nước gần như không sử dụng nghiệp vụ thị trường mở trong quý. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước gần như không phát hành mua kỳ hạn, nguyên nhân chính là việc thanh khoản thị trường liên ngân hàng ở mức dồi dào.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng không phát hành tín phiếu nhằm hút thanh khoản, trong điều kiện lạm phát không nhận áp lực tăng nhanh và nằm trong khả năng kiểm soát.

“Điều này cũng cho thấy thông điệp cũng như quan điểm của nhà điều hành về thanh khoản ổn định, đảm bảo không xảy ra hiện tượng đứt gãy thanh khoản trên hệ thống” – VCBS cho hay.

Hiệu ứng mùa vụ có thể tác động lên lãi suất trái phiếu

Trong quý III/2021, thị trường sơ cấp trái phiếu chính phủ được đẩy mạnh phát hành, với 107.245 tỷ đồng trái phiếu được huy động trong quý. Trong đó, Kho bạc Nhà nước đã huy động 96.221 tỷ đồng trái phiếu. Trong khi đó, Ngân hàng Chính sách Xã hội huy động 11.024 tỷ đồng trái phiếu.

Lãi suất trúng thầu trái phiếu do Kho bạc Nhà nước chủ yếu giảm trong quý III và chỉ tăng nhẹ trong những phiên đấu thầu cuối quý.

Cụ thể, lãi suất trúng thầu ghi nhận ở mức ở 0,82% (-28 bps); 1,17% (-19 bps); 2,12% (-08 bps); 2,35% (-11 bps); 2,80% (-11 bps) và 2,98% (-07 bps) cho các kỳ hạn 5 năm, 7 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm và 30 năm.

Không loại trừ lãi suất liên ngân hàng chịu áp lực tăng nhất định

Thị trường trái phiếu chính phủ thứ cấp quý III/2021, thanh khoản giao dịch kém sôi động hơn so với quý cuối năm trước, nhưng vẫn ở mức cao 507.971 tỷ đồng (-15,4%) được giao dịch trên thị trường thứ cấp.

Cụ thể, giá trị giao dịch theo phương thức thông thường (outright) đạt 330.517 tỷ đồng (-9,9%), trong khi giá trị giao dịch mua đi bán lại (repo) đạt 171.455 tỷ đồng (-24,4%). Đáng chú ý, trong quý III, 60% giá trị được ghi nhận tại các kỳ hạn trên 7 năm.

Trong quý III/2021, khối ngoại mua ròng 690 tỷ đồng trên thị trường trái phiếu chính phủ. Điều này cho thấy nhà đầu tư ngoại vẫn đặt niềm tin vào tài sản phi rủi ro ở những quốc gia đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô và cùng lúc kiểm soát được dịch bệnh như Việt Nam.

Không loại trừ lãi suất liên ngân hàng chịu áp lực tăng nhất định

Lợi suất giảm trong đầu quý, tuy nhiên chịu áp lực tăng vào cuối quý III.

Theo thống kê của Bloomberg, lợi suất các kỳ hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt kết thúc quý ở: 0,395% (+7 bps); 0,56% (+4,86 bps); 0,89% (-6,55 bps); 0,99% (-10,339 bps); 1,09% (- 14,12 bps); 1,34% (-8,7 bps); 2,20% (-6,25 bps); 2,49% (-9,55 bps); 2,95% (-12,93 bps); 3,09% (-0,25 bps).

Đánh giá về xu hướng biến động lợi suất trong phần còn lại của năm 2021, các chuyên gia của VCBS cho rằng, xu hướng giảm sẽ chững lại, các nhịp tăng nhẹ nếu có thì có thể xuất hiện vào cuối năm.

“Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục duy trì chính sách nhất quán và một cách thận trọng, trạng thái ổn định trên thị trường cũng như mặt bằng lợi suất trái phiếu có thể sẽ không biến động nhiều vào nửa đầu quý IV. Tuy nhiên về cuối quý IV, đặc biệt là vào cuối tháng 11 và 12, các hiệu ứng mùa vụ có thể tạo ra những áp lực tăng lên lợi suất trái phiếu trong ngắn hạn. Đồng thời, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng sẽ là yếu tố quyết định ảnh hưởng lên lợi suất trái phiếu, đặc biệt là lợi suất trái phiếu kỳ hạn ngắn. Mặt khác, kỳ vọng của các thành viên trên thị trường cũng trở nên thận trọng hơn đáng kể khi mức lợi nhuận tiềm năng không tương xứng với các rủi ro” – các chuyên gia của VCBS lý giải cho nhận định của mình./.

Thái Duy

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

(TBTCO) - Sáng 25/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng, lên 25.641 đồng, trong khi USD trên thị trường tự do và ngân hàng diễn biến phân hóa. Chỉ số DXY nhích 0,13% lên 101,25 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất gia tăng, trong bối cảnh quan chức Fed phát tín hiệu cứng rắn và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

(TBTCO) - Ngày 22/9/2026, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện, mở ra cơ hội kết nối sâu rộng giữa 2 bên trong việc triển khai các giải pháp tài chính – ngân hàng vượt trội phục vụ nhu cầu phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17693 17966 18540
CAD 17833 18107 18726
CHF 30694 31070 31704
CNY 0 3828 3924
EUR 28913 29132 30213
GBP 33525 33913 34858
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14377 14965
SGD 19767 20049 20627
THB 692 755 809
USD (1,2) 25722 0 0
USD (5,10,20) 25761 0 0
USD (50,100) 25789 25803 26169
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30